Thứ Hai, 13 tháng 6, 2016

ĐỜI PHIÊU LƯU CỦA TUẤN - CHƯƠNG VII

CHƯƠNG VII

Về Marát, ông Ích-miên cho người nhà đưa Tuấn đi xem các danh lam thắng cảnh và các nhà máy dệt vải. Tuấn cũng đến thăm Trung tâm bào chế thuốc rắn.

Vì nhân viên trong Trung tâm đã chứng kiến tính can đảm nhanh nhẹn của Tuấn nên mọi người đều tỏ lòng quý mến Tuấn. Ông Giám đốc Trung tâm dẫn cậu đi xem và giải thích tường tận công việc trong Trung tâm. Bây giờ Tuấn mới biết thêm : Những con rắn sau khi bị rút hết chất độc đều bị lột da. Da nó, người ta đem phơi rồi thuộc kỹ, để phân phối cho các nhà sản xuất giày, dép, ví, cho phụ nữ. Loại da rắn nhỏ, làm dây đeo đồng hồ. Thịt rắn thì đóng hộp bán ra thị trường cho các người khoái thịt rắn.

Tuấn hỏi ông Giám đốc các thứ thuốc trị nọc rắn. Ông cho biết :

- Ở đây, chúng tôi bào chế 2 loại thuốc bán ra thị trường : Một loại thuốc uống sau khi bị rắn độc cắn. Thuốc này công hiệu một trăm phần trăm. Trừ trường hợp nọc rắn quá độc mà chúng tôi chưa hề thấy. Loại thuốc thứ hai là thuốc xoa, để rắn ngửi thấy mùi thì không dám lại gần. Loại thuốc xoa là thuốc phòng ngừa. Khi ai đi đâu mà sợ chỗ đó có rắn độc, xoa thuốc này vào là chắc ăn !

Chúng tôi cũng còn chế tạo một thứ thuốc xoa, dành riêng cho nhân viên làm việc trong Trung Tâm , nhất là những nhân viên đi bắt rắn. Xoa thuốc này vào, rắn sẽ không cắn, lại ngoan ngoãn nằm yên cho người ta bắt bỏ vào giỏ.

Tuấn thắc mắc :

- Thưa ông, sao Trung tâm không chế tạo thuốc phòng ngừa ?

- Chúng tôi đã nghiên cứu kỹ lưỡng loại thuốc này. Nhưng xét ra : hoạ hoằn lắm, ta mới bị rắn cắn một lần, mà uống thuốc phòng ngừa, thì lâu lâu phải uống lại. Thuốc có lợi giúp phòng ngừa nếu lỡ bị rắn cắn, nhưng lại có hại cho cơ thể, nếu uống nhiều lần. Vì thế, chúng tôi chỉ bào chế loại thuốc uống sau khi bị rắn độc cắn, ít có hại hơn !

Tuấn vui vẻ :

- Thưa ông, cháu hiểu rõ : Vì thuốc trị nọc rắn cũng là một thứ thuốc độc, nếu uống nhiều sẽ có hại cho dạ dày !

Ông Giám đốc gật đầu, mỉm cười :

- Đúng thế !

Tự nhiên, Tuấn nảy ra ý định xin ở lại làm nghề đi bắt rắn và học cách bào chế thuốc trị rắn. Cậu hỏi dò ông Giám đốc :

- Thưa ông, hôm kia cháu từ Bombay đến đây, định mua thuốc trị rắn đem về Sàigòn. Không ngờ vì chuyện con rắn sổ lồng mà cháu trở về trễ, tàu nhổ neo đi rồi.

Bây giờ, cháu phải ở lại đây 6 tháng, đợi tàu qua chuyến khác. Trong lúc chờ đợi, cháu muốn xin ông cho cháu làm nghề bắt rắn và học cách bào chế thuốc trị rắn, có được không ?

Ông Giám đốc tỏ vẻ hoan hỉ :

- Được lắm ! Được lắm chứ ! Nói thiệt với cậu, hôm kia chúng tôi được mục kích tính can đảm của cậu, chúng tôi cảm phục lắm ! Nếu cậu muốn, chúng tôi sẵn lòng chỉ vẽ cho cậu cách thức bào chế thuốc. Sau này cậu về Sàigòn, mà không tìm mua được nguyên liệu bào chế, thì cứ biên thư cho chúng tôi, chúng tôi sẽ gởi biếu cậu.

Còn việc đi bắt rắn, thì cứ như lệ thường ở đây : Trung tâm sẽ cung cấp cho cậu đầy đủ dụng cụ. Cậu bắt được bao nhiêu rắn, thì Trung tâm sẽ trả tiền cho cậu tuỳ theo loại rắn. Rắn càng độc thì tiền thưởng càng nhiều.

Ở đây có nhiều sông, lạch, cây cối âm u rậm rạp, rắn độc vô số. Nhưng ít người dám làm nghề bắt rắn, mặc dầu được nhiều tiền hơn các nghề khác, vì họ nhát gan lắm. Mới trông thấy con rắn màu loang lổ, họ đã chết khiếp rồi, nói chi đến chuyện giơ tay bắt nó ! Chúng tôi thấy cậu can đảm lắm, chắc chắn cậu sẽ thành công !

Tuấn nghe nói thế, trong lòng càng thêm thích thú, háo hức :

- Thưa ông, để cháu về hỏi lại ý ông Ích-miên, rồi cháu sẽ trả lời dứt khoát !

*

Tối hôm ấy, nhân lúc Tuấn thuật chuyện đi thăm Trung tâm bào chế thuốc cho ông bà Ích-miên nghe, Tuấn ngỏ ý xin ở lại làm nghề bắt rắn và học bào chế thuốc, trong thời gian chờ đợi tàu Nam Hải sang chuyến khác.

Ông Ích-miên gật đầu tán thành :

- Cháu tính như vậy cũng là một điều hay. Ở vùng cháu có nhiều rắn độc, nếu cháu biết cách bào chế thuốc trị, chắc sẽ cứu mạng sống được cho nhiều người !

Cô bé Xuy-dan reo lên :

- Anh ở lại đây dạy tiếng Việt Nam cho em, để sau em lớn lên, em sẽ sang thăm anh và nói tiếng Việt Nam với anh !

Bà Ích-miên cũng tỏ vẻ vui mừng, bà bảo Tuấn :

- Ban ngày cháu đi làm, nhưng chiều thì cháu về đây ăn, ngủ. Ông bà sẽ dọn cho cháu một căn phòng riêng, cháu đi vắng thì nhớ khoá cửa lại.

*

Tuấn viết thư về nhờ Minh đưa tin cho má và em yên tâm. Và cậu cũng viết một lá thư riêng cho bác Thái Phong, tuy biết rằng còn vài ba tuần nữa ông mới về đến Sàigòn.

Ít hôm sau, Tuấn chính thức làm việc cho Trung Tâm. Mấy tuần đầu, cậu làm chung với một người khác để cho quen việc và biết các nơi có nhiều rắn độc. Lần thứ nhất giơ tay nắm một con rắn độc màu loang lổ, Tuấn rùng mình khiếp sợ, nhưng thấy con rắn trở nên hiền lành vì hơi thuốc, cậu yên tâm. Và mỗi ngày cậu càng bạo dạn thêm.

Nhờ sự khuyến khích của ông Giám đốc và anh em trong sở, Tuấn hăng hái say mê vào công việc. Sau vài tuần, cậu xin đi làm riêng.

Buổi sáng điểm tâm xong, Tuấn thay áo xống, mang găng tay, xịt thuốc lên khắp người và mang theo thuốc phòng ngừa, đoạn vác giỏ ra bờ sông. Mỗi nhân viên có sẵn một thuyền độc mộc, muốn đi đâu tuỳ ý.

Tuấn ngồi vào thuyền rồi nhắm hướng đi. Chỗ sông sâu thì dùng chèo để chống. Có chỗ cạn quá, phải lội xuống đẩy thuyền đi.

Lúc đầu chưa biết nhiều chỗ, Tuấn chỉ lanh quanh những nơi đã đi. Thường không phải gặp rắn nào cũng bắt, Tuấn phải lựa con nào có vẻ lạ, độc, mới bắt.

Về sau quen dần, Tuấn chèo thuyền đến những nơi xa hơn, rồi vác giỏ lên bộ, đi sâu vào trong rừng. Nhiều chỗ có vô số rắn quấn vào cành cây, thả đầu xuống tòng teng, lưỡi nó le vào le ra, miệng há đỏ lòm !

Từ đó, mỗi ngày Tuấn xách về một giỏ đầy rắn rất độc và rất lạ ! Mọi người đều thán phục. Tuy vậy, Tuấn không ích kỷ, cậu chỉ chỗ cho các bạn cùng sở biết, để họ đến bắt.

Tính ra Tuấn ở lại Ấn Độ được gần hai tháng. Một hôm cậu nhận được một lúc hai lá thư, một của em Hiền và một của bác Thái Phong. Em Hiền đưa tin má và em ở nhà bằng an và trông anh chóng trở về. Trong thư, Hiền còn nhõng nhẽo viết :

- Chừng nào anh hai về, anh nhớ bắt về cho em một con rắn thật đẹp để em nuôi chơi, nghe anh !

Thư ông Thái Phong khá dài. Ông cho Tuấn biết : Lúc tàu sắp nhổ neo mà không thấy Tuấn đâu, ông lo lắng hết sức. Mãi đến khi Dũng tìm được lá thư Tuấn để lại trên bàn, ông mới yên tâm. Ông bảo ông không phiền trách gì Tuấn, nhưng ông cho là Tuấn quá liều lĩnh.

Ông dặn dò tuấn, cố gắng ăn ở lịch sự, lễ phép, để làm vừa lòng mọi người. Nhờ đó mà học hỏi được nhiều điều hữu ích, hầu sau này có thể giúp cho đồng bào bớt được tai hoạ.

Ông cũng hứa, chừng nào tàu Nam Hải soạn sửa đi Bombay , ông sẽ đưa tin cho biết trước. Cuối cùng thư, ông thêm :

- Bác gái và em Minh gởi lời thăm con và mong con chóng về.

Hai lá thư ấy chẳng khác gì hai thang thuốc bổ tâm hồn và thể xác Tuấn. Cậu thấy yêu đời hơn lúc nào hết.
________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG VIII

ĐỜI PHIÊU LƯU CỦA TUẤN - CHƯƠNG VI

CHƯƠNG VI

Chiều hôm tàu Nam Hải chất xong hàng hóa, ông Thái Phong tuyên bố cho thủy thủ nghỉ ngơi từ sáng mai cho đến 3 giờ chiều. Ai muốn đi chơi đâu tùy thích, nhưng phải lo trở về cho kịp giờ. Vì lối 3 giờ 30, sau khi quan thuế kiểm soát xong, tàu sẽ nhổ neo. Ông Thái Phong còn thêm một câu :

- Cậu nào mà về trễ là phải ở lại đây 6 tháng, đợi tàu sang chuyến khác !

Cơm tối xong, Tuấn hồi hộp để lá thư trên bàn, rồi theo chúng bạn đi xem thành phố lúc về đêm. Lên bờ, Tuấn lẩn sang lối khác đến nhà ga, lấy vé lên xe tốc hành đi Marát.

Xe chạy khá nhanh, chỉ dừng lại những ga lớn. Cả ngày bốc hàng vất vả, nên Tuấn ngủ say mê mệt. Đến Marát, trời vẫn còn tối mù, Tuấn vào trong ga, kiếm một chỗ trống, nằm xuống ngủ tiếp.

Lúc cậu sực tỉnh dậy, thì trời đã sáng hẳn. Cậu kiếm nước rửa mặt, rồi đi hỏi thăm địa điểm bào chế thuốc rắn. Tuấn hỏi 2, 3 người, nhưng họ lắc đầu, tỏ ý không hiểu gì. Tuấn than thầm :

- Chết cha ! Không có ai biết tiếng Anh, giờ làm sao đây ?

Nhưng cậu lại tự nhủ :

- Có lẽ mấy bác nhà quê không biết tiếng Anh, chớ mấy người sang sang, chắc họ biết. Ấn Độ trước kia là thuộc địa của nước Anh mà !

Nghĩ thế, cậu đi tìm mấy người bận âu phục hay ăn mặc có vẻ sang, để hỏi thăm. Nhưng tiếng Anh của Tuấn cũng “bá trật, bá vuột” lắm, nên có người không hiểu cậu định nói gì, có người chỉ hiểu vài chữ.

May sao, Tuấn gặp một ông, có lẽ đã đi đây đó nhiều, ông ta bảo Tuấn nói thong thả từng chữ một, và ông đã hiểu ý Tuấn. Ông dắt tay Tuấn, dẫn đến một con đường lớn, chỉ tay bảo :

- Đây là con đường đi vào sở đó. Cậu đi chừng vài cây số, sẽ thấy một công viên lớn, bên phải là một dãy nhà cao, có hàng rào lưới bọc ngoài, đó là nơi bào chế thuốc rắn mà cậu muốn biết !

Tuấn chắp tay cám ơn, rồi đi ngay. Đi một quãng xa, Tuấn thấy nhiều tấm vải rằn ri, chăng phơi hai bên đường. Ở xa, trông như những tấm da rắn khổng lồ.

Tuấn sực nhớ lại, trong báo Thế giới Tự do đã mô tả vùng này. Trước kia, dân cư trong vùng vốn làm nghề dệt vải thường. Nhưng từ khi họ thấy da rắn phơi ở Trung tâm bào chế thuốc, có nhiều mầu sắc lạ mắt, họ mới nghĩ ra cách dệt vải theo mầu sắc ấy. Và từ đó, mức sản xuất loại vải này tăng lên rất mạnh. Nhiều nước trên thế giới, mỗi năm đặt ở đây hàng triệu thước vải loại này.

Khi Tuấn đến nơi, thì công viên đầy trẻ con đang chơi đùa, và một số trẻ khác đứng ngoài hàng rào lưới nhìn vào Trung tâm, xem người ta làm việc. Tuấn cũng lần đến đứng xem. Hàng rào che bằng lưới thép dày mắt, cao bằng ba người đứng. Phía trong, là sân tráng ximăng khá rộng. Tuấn thấy nhiều người đang làm việc. Vài người khiêng đến những giỏ dài bịt kín. Người khác bưng đến những bình thủy tinh đặt trên bàn.

Tuấn nghĩ thầm :

- Có lẽ họ đang sửa soạn lấy nọc rắn.

Quả thật, một lát sau, ba người ở trong nhà đi ra, họ bận đồ trắng như y tá, tay mang găng đen và 1 người cầm kìm nhỏ sáng loáng.

Hai người kéo cái giỏ lại gần, tháo dây cột miệng, rồi kéo ra một con rắn. Họ nắm chắc ngang lưng và cổ, để người thứ ba một tay bóp miệng rắn há ra, một tay cầm kìm thò vào bấm đứt cái răng chứa nọc độc. Hai người nắm con rắn, chúc đầu nó xuống và một chất nước trắng như sữa, từ từ chảy vào bình thủy tinh. Một lúc sau, màu trắng sữa đổi sang màu xam xám.

Con rắn, sau khi lấy hết nọc độc, họ bỏ vào một cái thùng lớn. Không hiểu rắn ở đâu mà nhiều thế. Hết giỏ này, người ta khiêng đến giỏ khác. Bình thủy tinh đã gần đầy nọc độc. Họ thay bình khác và cẩn thận đậy kín bình kia, đưa vào nhà.

Từ hàng rào nhìn vào chỗ họ đang làm việc chỉ cách 3, 4 thước, nên xem rất rõ. Tuấn say mê theo dõi cách thức họ làm, quên hẳn giờ khắc.

Tuấn thấy hai người khiêng ra một cái giỏ dài và nặng. Họ nói xầm xì với mấy người đang lấy nọc độc. Lập tức, cả bốn người cùng ngồi xuống. Họ cẩn thận tháo miệng giỏ và cùng thò tay vào lôi ra một con rắn dài độ 4, 5 thước. Đầu nó to, trên đầu có cái mồng đỏ như mồng gà, coi rất dễ sợ. Con rắn khá lớn, mỗi người phải giữ chặt một khúc bằng cả hai bàn tay. Họ hì hục nhấc bổng con rắn lên đem lại gần bàn…

Hình như con rắn biết người ta sẽ làm hại nó, nó liền quẫy mạnh một cái, vuột khỏi tay bốn người đang nắm giữ, phóng mình bay bổng về phía hàng rào. Thân mình nó rơi xuống nằm vắt ngang trên hàng rào thép !

Qua mấy giây sững sờ, mấy nhân viên mới hò nhau chạy vòng ra phía ngoài để chận bắt. Có người tưởng con rắn bị vướng trên hàng rào, vội đi kiếm cây sào khều nó xuống. Nhưng chỉ một phút sau, con rắn đã cựa quậy tụt xuống đường phía ngoài hàng rào, bò về phía công viên.

Từ lúc con rắn rơi xuống nằm vắt trên hàng rào, bọn trẻ sợ hãi bỏ chạy về công viên. Đứa sau xô đẩy đứa trước, khóc la chí choé. Tuấn cũng phóng chạy ngược về phía khác, thấy con rắn bò về phía công viên, cậu yên tâm bước lần theo sau nó.

Bỗng vài người còn lại ở trong sân kêu thét lên, vì con rắn phóng nhanh hơn, mà mấy nhân viên đi chận bắt chưa chạy ra tới nơi. Trước mặt con rắn, ba đứa trẻ đang chạy. Đứa cuối cùng là một bé gái độ 7, 8 tuổi, chỉ cách con rắn một quãng ngắn.

Nghe tiếng người kêu la, cô bé quày đầu lại, thấy con rắn sắp bò tới nơi, sợ quá, cố bé khuỵu hai chân, ngã xỉu trên mặt đường !

Trong giây phút thập phần nguy hiểm, Tuấn phóng mình chạy theo con rắn. Cậu chụp lấy đuôi nó, nhưng bị vuột. Cậu chụp lần thứ hai, nắm được đuôi. Cậu giật một cái thật mạnh, rồi cứ thế, cậu lôi con rắn xềnh xệch trở lui. Muốn cho chắc, cậu giật đuôi rắn thêm vài cái nữa rồi mới thả ra. Con rắn bị rãn xương sống, không bò được nữa, nhưng đầu nó cất cao, phun nước phè phè, trông rất dễ sợ !

Thấy Tuấn cứu được cô bé, người trong sân vỗ tay hoan hô ầm ĩ. Và mấy nhân viên chạy ra chận con rắn cũng vừa tới. Họ chia nhau kẻ bồng em bé đi cứu cấp, người bắt rắn bỏ vào bao. Đoạn họ chạy đến vây quanh Tuấn, kẻ nắm tay, người vỗ vai, khen ngợi Tuấn rối rít. Tuấn ngơ ngác, không hiểu mô tê gì hết, chỉ nghe họ nói :

- Ả ra… ả ra… ả ra…

Một lát sau, có hai ông bà quý phái cũng chạy đến. Mấy người có mặt ở đó, tỏ vẻ cung kính hai ông bà lắm. Họ dãn ra để hai ông bà đứng giữa, và một người chỉ Tuấn, nói gì với hai ông bà một thôi dài. Ông bà vừa nghe xong, ôm chầm lấy Tuấn, nói rối rít. Và Tuấn cũng chỉ nghe mấy tiếng :

- Ả ra… ả ra… ả ra…

Thấy Tuấn ngơ ngác làm thinh, mọi người mới nhận ra cậu là một thanh niên lạ mặt, không phải là người bản xứ vì cách ăn mặc, vì màu da.

Bấy giờ, Tuấn mới bập bẹ bằng tiếng Anh :

- Cháu tên là Tuấn, người Việt Nam ở Sàigòn, cháu theo tàu buôn sang Bombay . Cháu nghe nói ở đây có bán thuốc trị rắn độc nên cháu đến mua.

Mọi người tỏ vẻ cảm phục Tuấn. Ông quý phái cầm lấy tay Tuấn dắt đi :

- Thôi, cháu về nhà ông một chút đã. Thuốc trị rắn, cháu muốn bao nhiêu cũng có !

*

Nhà hai ông bà ở phía trái công viên, trong một khu vườn có tường cao, biệt lập với các nhà chung quanh. Cửa cổng bằng sắt và có người gác. Nhà kiến trúc theo lối cổ Ấn Độ. Trong nhà, trưng bày nhiều đồ quý giá. Tuấn nghĩ thầm :

- Có lẽ ông bà này làm chức gì lớn lắm ?

Quả thật, khi vào trong phòng khách, ông quý phái ôn tồn mời Tuấn ngồi. Đoạn ông kể lai lịch cho Tuấn biết :

- Ông là Mô-ha-mét Ích-miên (Mohamed Ismael) tù trường cai quản hạt Marát này. Ông bà được 8 đứa con, trừ Xuy-dan (Suzanne), còn nhỏ, ở nhà với ông bà, bảy đứa lớn đều đi học xa. Cô bé Xuy-dan là con út, nên ông bà cưng lắm.

Ông đằng hắng rồi nói tiếp :

- Xuy-dan từ nhỏ đã bị yếu tim. Nếu hôm nay không có cháu cứu kịp thời, chắc nó sẽ chết vì sợ hãi !

Ông nhìn Tuấn đầy vẻ biết ơn :

- Thật ông bà mang ơn cháu rất nhiều !

Ông nói đến đây thì bà Ích-miên bồng Xuy-dan về đến cửa. Cô bé đã trở lại bình thường. Nó chạy a về phía ông. Ông giơ hai tay ôm choàng lấy con, hôn lấy hôn để. Rồi ông chỉ Tuấn, bảo con :

- Xuy-dan, con lại cám ơn anh đây đi. Anh đã cứu cho con khỏi rắn cắn đó !

Xuy-dan bước lại nắm lấy tay Tuấn, tỏ dấu biết ơn. Tuấn mỉm cười ôm lấy em, vuốt mái tóc em.

Đồng hồ treo trên tường điểm giờ. Tuấn giật mình nhìn lên, hốt hoảng kêu :

- Trời ! Mười giờ rồi !

Cậu vội vàng đừng dậy, nói với ông bà :

- Xin ông bà bán thuốc rắn cho cháu ngay, vì cháu phải trở về Bombay cho kịp trước giờ tàu nhổ neo đi Sàigòn !

Nghe vậy, ông Ích-miên cũng cuống lên. Ông bảo bà :

- Bà gọi tài xế lái xe đưa cậu Tuấn về Bombay , nhanh lên. Để tôi đi lấy thuốc cho cậu.

Bà Ích-miên bước lại ghé vào tai ông, nói nhỏ… ông gật đầu lia lịa. Bà vội vàng vào nhà trong. Chỉ một lát sau, có tiếng còi xe hơi trước cửa. Ông Ích-miên cầm 5 lọ thuốc đưa cho Tuấn :

- Cháu bỏ vào cặp đi, để ông đưa cháu lên Bombay . Dọc đường, ông sẽ chỉ cách dùng thuốc cho cháu.

Bà Ích-miên cũng xách một giỏ trái cây cho Tuấn bỏ vào xe. Thấy cha đi, cô bé Xuy-dan đòi đi theo. Ông cười bảo bà :

- Thôi mình cùng lên xe với con. Chúng ta đi chơi Bombay một hôm cũng chẳng sao !

Xe ra khỏi cổng, quẹo vào con đường lớn. Ông Ích-miên nói với tài xế :

- Chúng tôi cần đến Bombay gấp, anh cho xe chạy nhanh được chừng nào hay chừng ấy, nhưng nhớ cẩn thận nghe !

Người tài xế “dạ” một tiếng, rồi nhấn ga. Đường tốt, xe chạy như bay. Tuấn có vẻ sốt ruột. Ông Ích-miên cũng nhận thấy thế, nên ôn tồn bảo cậu :

- Cháu hãy bình tĩnh, đừng quá hốt hoảng. Nếu đến kịp trước khi tàu nhổ neo thì tốt. Bằng không, ông bà sẽ mua vé máy bay cho cháu về thẳng Sàigòn, cháu đừng lo !

Tuấn nghe ông hứa chắc thế, cảm thấy yên tâm hơn. Trên quãng đường gần ngàn cây số, Tuấn tỉ tê kể cho ông bà nghe hoàn cảnh gia đình cậu và nguyên do thúc đẩy cậu tới đây.

Ông Ích-miên cảm động, vỗ vai Tuấn :

- Cháu thật là đứa con có chí lớn, trời đất sẽ không phụ tấm lòng hiếu thảo của cháu đâu. Ông bà hy vọng cháu sẽ được như ý nguyện.

Xe đến hải cảng Bombay thì không còn thấy tàu Nam Hải đâu nữa. Hỏi thăm những người làm việc ở đây, họ cho biết tàu Nam Hải đã nhổ neo rời bến lúc 15 giờ 30. Ông Ích-miên quay lại an ủi Tuấn ;

- Thôi, lỡ dịp rồi, cháu đừng buồn. Bây giờ chúng ta đi ăn cơm, rồi cháu trở lại Marát chơi vài hôm đã. Sau đó, ông bà sẽ mua vé máy bay cho cháu về sàigòn cũng không muộn !

Tuấn đành phải nghe lời.
_____________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG VII

Chủ Nhật, 12 tháng 6, 2016

ĐỜI PHIÊU LƯU CỦA TUẤN - CHƯƠNG V

CHƯƠNG V

Đi Nhật về được ít lâu, tàu nam Hải lại được xem xét kỹ lưỡng, để chở hàng sang Ấn Độ. Tuấn được tin ấy, cậu vui mừng khấp khởi.

Trước đây, Tuấn đọc báo Thế giới Tự do, thấy nói ở xứ Marát ( Madras ) bên Ấn Độ, người ta bắt rắn độc để lấy nọc của nó, bào chế thành một thứ thuốc chữa trị những người bị rắn độc cắn.

Cái chết oan uổng của ba Tuấn làm cho Tuấn nuôi một ước mộng : Phải chi vùng Tuấn ở, mà có thuốc đó, chắc cứu được nhiều người thoát chết vì tai họa rắn cắn. Ước mộng đó, Tuấn chưa hề nói ra cho ai biết, dù với má Tuấn.

Khi biết chắc chắn mình sẽ được đi theo tàu, Tuấn đêm ngày ôn lại Anh ngữ, để có thể nói cho người ta hiểu được. Đồng thời, cậu cũng mua một bản đồ Ấn Độ, để xem cho biết đường. Từ Bombay, là nơi tàu nam Hải cập bến, đến Marát khá xa. Bombay ở miền Tây Bắc Ấn Độ, còn xứ Marát lại nằm về phía Đông Nam Ấn Độ.

Muốn biết cho thấu đáo, Tuấn làm quen với mấy chú Chà để hỏi. Họ cho Tuấn biết :

- Từ Bombay đi Marát, gần một ngàn cây số, có xe lửa tốc hành đi và về, mỗi ngày đêm có 6 chuyến. Cách 4 giờ có một chuyến khởi hành. Tính ra phải mất hơn mười giờ đồng hồ mới tới nơi. Còn đi xe hơi thì nhanh hơn, nhưng mất nhiều tiền.

Tuấn thử làm một bài tính : Nếu ông Thái Phong cho đi chơi trọn ngày, chưa chắc mình đi về kịp. Huống chi có nhiều lần, ông chỉ cho xả hơi nửa ngày thì biết làm sao ?

Suốt mấy đêm, Tuấn không ngủ yên giấc vì bài tính không đáp số đó. Có lần cậu định bụng :

- Hay là mình cứ nói sự thật ra, để xin phép bác ?

Nhưng rồi cậu lại tự nhủ :

- Biết bác ấy có cho phép không, hay là bác lại cho là mình mơ mộng như trẻ con thì hỏng việc hết !

Một ý nghĩ liều lĩnh hiện ra trong đầu óc Tuấn :

- Thôi, tới đâu hay đó ! Dù thế nào, mình cũng đi Marát cho kỳ được.

Bài toán đã có đáp số, không biết đúng hay sai, nhưng đã làm cho Tuấn trở nên vui vẻ hăng hái.

*

Đường biển từ Sàigòn đi Ấn Độ xa gấp ba Sàigòn đi Nhật Bản, nhưng Tuấn cảm thấy vui thích hơn.

Thành phố Bombay toạ lạc trên một hòn đảo dựa vào rặng núi Western Ghâts sừng sững đàng xa. Chung quanh là làn nước xanh biếc của vịnh Oman bao bọc. Bờ biển đầy cây dừa cao ngất, tập hợp thành một bức tường thành tuyệt đẹp.

Đến Bombay , việc trước tiên của Tuấn là làm quen với mấy thủy thủ Ấn Độ, để hỏi xem các giờ xe lửa tốc hành đi Marát và các giờ xe hơi. Họ cho biết :

- Xe lửa tốc hành từ Bombay đi Marát, mỗi ngày và đêm có 6 chuyến : 8 giờ sáng, 12 giờ trưa, 16 giờ chiều, 20 giờ tối, 24 giờ đêm và 4 giờ sáng. Ở Marát đi Bombay cũng khởi hành cùng giờ như vậy.

Còn xe hơi thì vô chừng, hành khách đầy xe thì họ chạy. Nếu mình muốn nhanh, thì bao luôn cả chuyến.

Tuấn vừa lo dở hàng xuống, vừa suy tính :

- Thường khi bác Thái Phong cho thủy thủ nghỉ ngày mai, thì bác báo cho biết tối hôm trước. Như vậy, mình sẽ đi xe lửa ban đêm, sáng ngày đến Marát, mình sẽ ở lại Marát vài giờ. Độ 9 giờ sáng, mình bao xe hơi trở về Bombay . Nếu bác ấy chỉ cho đi chơi nửa ngày, thì mình sẽ cố về sớm hơn !

Nghĩ đến việc trốn đi cả đêm mà không cho bác Thái Phong biết, Tuấn thấy không ổn. Cậu phân vân không biết tính cách nào. Cuối cùng, cậu định viết một lá thư dài, trình bày cho bác rõ, và để thư ấy lại trên bàn.

Hàng dở xuống xong, các thủy thủ được đi dạo phố một buổi chiều, để hôm sau lại bốc hàng lên tàu.

Khác hẳn với dân Nhật, người xứ Ấn Độ phần nhiều mặc màu trắng, có lẽ cho bớt nóng. Phụ nữ Ấn Độ còn choàng đầu và vấn quanh người bằng một tấm vải dài, có cô chỉ còn thấy hai con mắt và một chấm đỏ giữa trán.

Nước Ấn Độ có vẻ nghèo nàn, không có gì đặc biệt. Khi bước chân vào thành phố, Tuấn lấy làm lạ, vì có nhiều con bò đi nghênh ngang, có con nằm nghỉ ngay giữa đường, xe cộ qua lại phải tránh chúng nó. Dũng cắt nghĩa cho Tuấn :

- Tại vì dân Ấn Độ coi con bò là một con vật linh thiêng, nên không dám chạm tới chúng. Tuấn biết, dân Ấn không ăn thịt bò đâu, nghe !

Rồi Dũng che miệng cười :

- Phân bò, họ cũng quý lắm. Họ cung kính hốt về, trét lên tường cho khô để làm than đun bếp !

Tuấn cũng cười theo :

- Phong tục cũng lạ nhỉ ?

Dũng khoát tay :

- Đi một quãng nữa, anh sẽ thấy đời sống dân chúng ở đây, chia hẳn thành hai thái cực rõ rệt : giàu thì giàu sụ, nghèo thì nghèo xác, nghèo xơ, chớ không xô bồ như ở nước ta.

Ấn Độ dân cư đông mà tài nguyên ít, nên nhiều người đói khổ. Những năm mất mùa, số người chế đói có khi lên hàng vạn !

Ấn Độ là một nước có chế độ giai cấp duy nhất trên thế giới. Chế độ này phát sinh bởi đạo Bà-la-môn tức là Ấn-độ-giáo bày đặt ra. Lúc đầu chỉ có 4 giai cấp chính, nhưng về sau lại chia ra nhiều giai cấp phụ, tính ra có đến 3.000 giai cấp !

Tuấn cười :

- Giai cấp gì mà nhiều dữ vậy ?

Dũng cũng cười, nói tiếp :

- Ấy, Tuấn để yên tôi kể cho mà nghe : Giai cấp nhiều thế đó, vậy mà mỗi giai cấp lại có luật lệ phong tục riêng biệt. Người ở giai cấp này không được kết hôn với giai cấp kia, không được ngồi ăn cùng bàn với giai cấp kém hơn mình. Họ phải triệt để tuân theo luật lệ của giai cấp mình, không thì bị trục xuất. Kẻ bị trục xuất khỏi giai cấp, sẽ sống bơ vơ, không ai dám cưu mang, giúp đỡ !

Trong các giai cấp thì giai cấp cùng đinh thường bị khinh rẻ, có khi còn bị coi kém hơn cả súc vật. Họ chỉ sống chui rúc, cực khổ ở những nơi dành riêng cho họ. Họ không được may mặc những thứ vải của giai cấp trên, không được vào các đền chùa !

Tuấn ngạc nhiên :

- Thế họ bằng lòng chịu số phận hẩm hiu như vậy mãi sao ? Họ không tranh đấu gì hết à ?

Dũng lắc đầu :

- Giai cấp cùng đinh này đông lắm, có lẽ hơn 60 triệu, so với tổng số dân Ấn là 450 triệu. Nhưng hạng cùng đinh này mặc cảm rằng : giai cấp họ là ti tiện, đáng khinh, nên họ chỉ âm thầm chịu đựng không hề than trách !

Nhiều nhà lãnh tụ Ấn đã tìm cách phá tan thành kiến đối với giai cấp cùng đinh, nhưng vẫn không mấy kết quả.

Chắc anh đọc sách, cũng biết ở Ấn Độ có ông Gandhi, mà dân Ấn kính tôn như một vị đại thánh. Hồi sanh tiền, ông Gandhi đã từ bỏ giai cấp quý phái để hòa mình với giai cấp cùng đinh. Ông gọi họ là con của Thượng Đế và hô hào toàn dân Ấn xử đãi với giai cấp khốn khổ này như anh em, nhưng kết quả vẫn còn mong manh lắm.

Muốn phá tan thành kiến đó, thiết tưởng phải cách mạng tư tưởng tất cả dân Ấn mới mong kết quả !

Dũng kéo Tuấn vào quán nước bên vệ đường, mua nước uống, rồi tiếp tục kể :

- Ấn Độ có nhiều tôn giáo. Dân họ lại cuồng tín, sẵn sàng hy sinh tính mạng mình vì tôn giáo, vì thế thường có những cuộc nội chiến do các tôn giáo gây ra.

Hai tôn giáo chính của Ấn Độ là Ấn-độ-giáo hay là đạo Bà-la-môn, có độ 250 triệu tín đồ. Và Hồi-giáo có độ 50 triệu tín đồ.

Ngoài hai tôn giáo đó, còn có nhiều tôn giáo khác.

Đa số dân Ấn ở Decan theo đạo Parsi, một tôn giáo thờ đa thần : Thần Đất, thần Sông, thần Lửa, nên các tín đồ phải tránh làm uế tạp các vị Thần này. Khi có người chết, họ không dám chôn xuống đất, vì sợ phạm đến Thổ thần. Họ không dám quăng xác chết xuống sông, vì sợ Thủy thần, cũng không dám hỏa thiêu, vì sợ Hỏa thần nổi giận.

Bởi thế, họ phải xây một cái tháp cao ở một nơi xa làng xóm. Tang gia đưa thi hài người chết phơi trên tháp cho đàn chim kên kên và quạ đến rỉa thịt.

Vì tháp này ở xa làng xóm, suốt ngày không có một tiếng người, chỉ có tiếng kên kên và quạ, nên dân chúng gọi là Tháp Yên Lặng.

Theo lời người gác Tháp Yên Lặng, mỗi lần có một xác người chết đem bỏ vào Tháp, thì chỉ trong vòng mấy phút là đàn chim đến rỉa hết thịt, còn trơ lại bộ xương. Sau khi làm xong công việc, đàn chim lại bay lượn trên trời, mắt nhìn về phía con đường từ làng đến tháp, hình như chúng nóng ruột chờ đợi một đám tang khác !

Tuấn chắt lưỡi than :

- Tôn giáo gì mà có những điều luật kỳ lạ quá !

Hai người vào trung tâm thành phố. Phố xá khá đẹp, hai bên san sát các cửa hàng bán tơ lụa. Dũng cắt nghĩa cho Tuấn rõ :

- Bombay chia ra nhiều khu. Khu này là khu thương mãi nằm dọc theo bờ biển. Nhưng đẹp nhất là khu Marine Drive và khu Malabar Hill. Khu Marine Drive cũng nằm dọc theo bờ biển, phố xá xây thật đẹp và ăn khớp với nhau theo một chương trình xây cất, nên coi như là một khối đồ sộ, hùng vĩ. Khu Malabar Hill thì nằm trên một dãy đồi. Ban đêm ở ngoài biển nhìn vào, thấy đèn điện như sao sa, thiệt đẹp. Khu này, có nhiều công viên xem không chán mắt. Dưới chân đồi là một bãi cát rộng chạy dọc theo bờ biển. Chiều chiều người ta tấp nập kéo nhau ra đây ngồi hóng mát.

Nhưng nếu muốn biết Ấn Độ thuần túy, phải đến xóm gần phố chợ. Ở đây, nhà cửa chật hẹp, thấp lè tè, chỗ nào cũng có đền chùa. Ngoài đường, người qua lại chen chúc như nêm cối và thuộc đủ mọi hạng người khác sắc tộc. Người nào người nấy giữ nguyên bản sắc địa phương mình, từ y phục đến ngôn ngữ, phong tục và tôn giáo…

Dũng che miệng ngáp :

- Nói chuyện về Ấn Độ thật không cùng. Thôi chúng ta vào xem ngôi chùa gần đây một lát !

Dũng dẫn Tuấn vào viếng một ngôi chùa. Vừa vào khỏi cổng, cả hai chợt thấy một ông già, 1 tay xách cái giỏ, 1 tay cầm ống sáo. Dũng khẽ bảo Tuấn :

- Chúng ta đi theo ông già này mà xem sự lạ !

Tuấn chưa hiểu gì nhưng cũng rảo bước theo bạn. Ông già vào cạnh một gốc cây bỏ giỏ xuống lấy sáo ra thổi. Một điệu nhạc buồn buồn vang lên. Độ mươi người đang viếng cảnh chùa, nghe tiếng sáo cũng kéo đến xem. Ông già đột nhiên thay điệu nhạc vui nhộn, tức thì cái giỏ động đậy và một con rắn màu loang lổ, nhô đầu lên cao, lên cao dần. Đầu con rắn hình tam giác, hơi dẹp, hai mắt có hai vòng tròn trắng, lắc lư theo điệu nhạc, lưỡi nó ngo ngoe, tiết ra một tiếng huýt nho nhỏ. Mọi người đều lộ vẻ kinh hoàng, nín thở, vì con rắn này chính là con hổ mang có tên là cobra, nọc độc nó thật khủng khiếp. Kẻ nào bị nó cắn, chắc khó sống ! Cả bọn lùi xa một bước, nhưng vẫn dán cặp mắt vào đầu rắn đang lắc lư như khiêu vũ theo điệu nhạc. Ông già lại thổi điệu nhạc buồn buồn. Con rắn từ từ thu mình cuộn tròn vào đáy giỏ. Bấy giờ, mọi người mới thở phào ra, như trút được một gánh nặng. Họ bỏ tiền thưởng vào cái thau ông già để sẵn trước mặt. Dũng kéo Tuấn đi chỗ khác :

- Ông già vừa rồi thuộc hạng tương tự như thầy phù thủy, người Ấn gọi là Fakir. Đời sống mấy ông nầy kỳ lắm. Ông thì nuôi rắn hổ mang đi biểu diễn như chúng ta thấy đó. Có ông ngồi yên một chỗ, một chân vắt lên vai, suốt đêm ngày như thế. Ai cho gì thì ăn, không thì nhịn đói. Mà họ nhịn đói rất tài.

Có ông lại nằm, tháng này qua tháng khác, trên một tấm ván đóng đầy đinh nhọn lởm chởm.

Tôi còn nghe kể một truyện kỳ lạ khác nữa : Có một lão Fakir ngồi chống tay vào má, lâu ngày đến nỗi móng tay dài ra đâm thủng cả má, thế mà ông ta không hề cựa quậy. Câu truyện chả biết thật hư thế nào, mà nghe có vẻ thần thoại quá !

Tuấn trầm ngâm :

- Trước đây, tôi đọc sách nói về Ấn Độ là một xứ đầy huyền bí, mà quả thật, Ấn Độ huyền bí đến dễ sợ !
___________________________________________________________________ 
Xem tiếp CHƯƠNG VI

ĐỜI PHIÊU LƯU CỦA TUẤN - CHƯƠNG IV


CHƯƠNG IV

Bốn năm trôi qua…

Tuấn được ông bà Thái Phong nuôi cho ăn học. Thỉnh thoảng, Tuấn về thăm má và em, nhưng về tránh trút, vì sợ ông Tư Bá bắt gặp.

Tuấn và Minh cùng học chung một lớp. Ý ông bà Thái Phong muốn cho cả hai học đến Đại học, nhưng Tuấn thấy mang ơn cha mẹ nuôi quá nhiều. Vả lại, ý Tuấn không muốn chọn một nghề cần bằng cấp cao. Ước vọng của cậu là một mảnh vườn trồng cây ăn quả và vài mẫu ruộng cấy lúa, để vui sống cạnh mẹ già, em dại, thế là cậu mãn nguyện.

Vì thế, cậu giấu cha mẹ nuôi, nạp đơn xin dự kỳ thi Trung học tráng niên và cậu đã được kết quả như ý. Mãi đến ngày ghi tên vào Đệ Tam, Tuấn mới tỏ thật với cha mẹ nuôi để xin thôi học. Ông Thái Phong ngạc nhiên hỏi :

- Con mới 16 tuổi, còn học hành được, tại sao lại thôi ? Con định làm gì ?

Tuấn nhỏ nhẹ :

- Thưa bác, từ lâu, con chỉ ước mong học đến Đệ Tứ. Cái chết của ba con đã làm cho con tưởng là tuyệt vọng. Nhưng may Trời dun dủi cho con được gặp hai bác thương giúp. Nay con học được như thế này, là con đã mãn nguyện lắm rồi.

Trong tương lai, con không có tham vọng làm việc gì cần bằng cấp cao, mà con chỉ thích làm ruộng, làm vườn. Vì thế, con xin bác cho con được đi theo tàu bác điều khiển vài năm, trước là con được đi đây đi đó để học hỏi thêm những điều tai nghe mắt thấy, sau là con có thể dành dụm được ít tiền cho má con mua một miếng vườn, để mẹ con sống với nhau.

Ông Thái Phong nghe Tuấn giãi bày, ông cảm động nắm lấy tay Tuấn :

- Bác thấy con có hiếu, bác mừng lắm ! Nếu con không muốn học nữa thì bác cho con đi với bác !

*

Thế là ít lâu sau, Tuấn trở thành một thủy thủ trẻ tuổi làm việc dưới tàu Nam Hải.

Tàu Nam Hải trọng tải trung bình, nhưng được kể vào hạng tàu lớn do người Việt Nam làm chủ. Tháng nào, tàu Nam Hải cũng chở hàng từ Sàigòn đi Tân Gia Ba và lãnh hàng ở đó chở về Sàigòn. Và cứ sáu tháng, tàu lại đi một chuyến qua Nhật và một chuyến sang Ấn Độ. Về mùa biển hay động mạnh, tàu được kéo vào ụ để xem xét, sửa chữa và sơn quét lại.

Ngoài ông Thái Phong là Thuyền trưởng, còn có một phụ tá và một số thủy thủ chừng 15 người.

Công việc của Tuấn cùng các bạn : chùi rửa tàu mỗi ngày, xem sóc tất cả các phòng và kho hàng. Những ngày tàu bốc hàng và dở hàng, thì công việc của thủy thủ vất vả khó nhọc hơn ngày thường.

Các bạn thủy thủ, ai cũng biết Tuấn là con nuôi ông Thuyền trưởng, nhưng Tuấn không vì thế mà lên mặt với ai. Cậu coi mình như một thủy thủ tập sự, tận tâm làm việc dưới quyền điều khiển của những bậc đàn anh. Bởi đó, nhân viên trong tàu, ai cũng quý mến cậu. Trong số các bạn thủy thủ, Tuấn rất thân với Dũng. Tàu cập bến một hải cảng nào, nếu được phép đi dạo phố, thế nào Tuấn Dũng cũng đi cặp với nhau. Dũng đã làm việc dưới tàu Nam Hải lâu năm, đã đi đây đi đó ; nhờ Dũng mà Tuấn học hỏi được thêm nhiều điều hữu ích. Ông Thái Phong cũng muốn cho Dũng chỉ vẽ cho Tuấn trong bước đầu mới vào nghề, vì ông nhận thấy Dũng là một thanh niên đứng đắn.

Đến kỳ tàu sắp sửa chở hàng xuất cảng sang Nhật, ông Thái Phong đưa tin cho nhân viên biết. Tuấn mừng thầm, vì được dịp đi xem một nước mà kỹ nghệ đã nổi tiếng nhất nhì miền Đông Nam Á.

Một tuần trước khi tàu nhổ neo, ông Thái Phong cho Tuấn về thăm nhà. Bà Hai dặn dò con, cố gắng làm việc cho tử tế và ăn ở hòa nhã với mọi người, Em Hiền bá cổ anh, nhõng nhẽo :

- Anh Hai đi Nhật, nhớ mua quà Nhật cho em, nghe anh !

Tuấn hôn lên hai má lúm đồng tiền của em, hứa hẹn :

- Ừ, anh sẽ mua cho má một cái “radô”, chạy bằng “bin” để má nghe cải lương nè ! Còn em, anh sẽ mua cho em một cái máy thu băng, để em thu tiếng em hát, em cười vào trong máy, rồi mở ra nghe lại, y hệt tiếng em vậy !

Hiền tưởng anh nói đùa, xịu mặt xuống :

- Thôi, nghỉ chơi với anh Hai đi, em không tin đâu ! Máy gì mà lạ vậy ?

Tuấn ôm lấy em, vỗ về :

- Tại em chưa thấy, nên em lấy làm lạ, chớ anh đã thấy rồi. Nhiều kiểu lắm, có thứ nhỏ xíu hà, bằng cuốn tập thôi !

Bà Hai cũng chưa hề thấy loại máy lạ đó :

- Máy gì mà hay quá nhỉ ? Mà có mắc tiền lắm không con ?

Tuấn cười :

- Ở Sàigòn, người ta cũng có bán mà mắc. Còn như bên Nhật là nơi họ chế tạo ra, chắc rẻ hơn nhiều.

*

Suốt mấy ngày bốc hàng lên tàu, Tuấn và các bạn làm việc không ngừng tay. Những chiếc xe vận tải hạng nặng, nối đuôi nhau chở từng kiện hàng to tướng, cặp sát vào hông tàu. Người điều khiển cần cẩu, móc hàng lên rồi bỏ xuống kho. Một số người đứng trong kho, khiêng sắp các kiện hàng cho có thứ tự. Họ phải cẩn thận, nhẹ nhàng, khi di chuyển những kiện hàng có chữ đỏ to tướng : “DỄ VỠ”.

Hàng chất vào kho tàu xong xuôi, các thủy thủ được nghỉ ngơi một ngày. Sáng hôm khởi hành, nhân viên quan thuế lên tàu kiểm soát một lần chót, đoạn cho lệnh nhổ neo.

Chiếc thang lên tàu đươc xếp gọn vào hông tàu và chiếc neo khổng lồ vừa kéo lên, thì máy tàu chuyển động mạnh hơn. Tàu từ từ ra khỏi bến, để lại đằng sau, những giòng nước xoáy trắng xóa. Từ bến Sàigòn ra đến cửa biển Vũng tàu, chiếc Nam Hải do một hoa tiêu riêng cầm lái. Hoa tiêu này do hội Hoa Tiêu chuyên môn lái tàu trên quãng sông Sàigòn- Vũng Tàu, vì họ biết rõ lòng sông. Ra đến biển, họ giao tay lái cho hoa tiêu của tàu rồi trở lại Sàigòn bằng tàu riêng của họ.

Lênh đênh hơn một tuần lễ trên mặt biển rộng mênh mông, Tuấn tuy không bị say sóng, nhưng cậu cảm thấy buồn bã, vì suốt ngày chỉ quanh quẩn trên tàu. Các thủy thủ khác, vui vẻ hơn, vì họ đã quen đi như thế nhiều lần.

Tàu cập bến Yokohama vào một buổi sáng. Hải cảng này lớn gấp mấy lần hải cảng Sàigòn. Tàu thủy, cái lớn, cái nhỏ, đậu chi chít. Tuấn so sánh chiếc Nam Hải với mấy chiếc tàu dầu đang đậu gần đó, thật chẳng khác gì con chó với con voi !

Các thủ tục xong xuôi, tàu Nam Hải hạ neo và bỏ thang xuống bến. Trong việc giao dịch với người ngoại quốc, dân Nhật dùng tiếng Anh, còn khi họ tiếp xúc với nhau, họ dùng tiếng bản xứ. Tuấn để ý nghe hai người Nhật nói chuyện với nhau : giọng họ nói cũng na ná như mấy ông Ba Tàu ở Chợ lớn nói chuyện với nhau vậy.

Bước chân lên đất Nhật, điều Tuấn nhận thấy trước tiên là sạch sẽ. Bến tàu, nhà cửa, đường sá đều sạch sẽ.

Chuyến đi Nhật lần này, ông Thái Phong theo đài khí tượng tiên đoán, sợ có giông bão xẩy đến, nên đã quyết định rút ngắn thời gian ở đất Nhật, để trở về Sàigòn sớm hơn dự định. Bởi đó, sau khi dở hàng xuống bến, ông Thái Phong cho Dũng dẫn Tuấn đi xem thành phố Tokyo (Đông Kinh) một ngày, để trở về cho kịp.

Sáng sớm, Dũng đưa Tuấn lên tàu điện. Dũng đổi một số tiền kền Nhật, để mua vé. Cậu xem giá tiền xe đi Tokyo , rồi bỏ tiền vào “ghi sê” có ghi chữ Tokyo , vài giây sau, một cái vé xe lòi ra cùng với số tiền lẻ thối lại. Dũng bỏ tiền lần nữa, để mua một vé khác cho Tuấn.

Một lát sau, tàu đến, Dũng léo Tuấn bước vội lên tàu, vì chỉ trong mấy phút là tàu sẽ tự động đóng cửa và chạy ngay. Khi tàu bắt đầu chạy, Dũng cắt nghĩa cho Tuấn hiểu :

- Tàu điện ở đây cứ độ mươi phút là có một chuyến. Đường tàu đi và về khác nhau, nên không bao giờ đụng nhau. Ghi sê bán vé tự động chớ không có người. Mình muốn đi đâu, cứ theo giá tiền ghi trên bảng, mà nhét tiền vào “ghi sê”, máy sẽ tự động đưa vé ra cho mình. Và nếu mình đưa dư tiền nó cũng sẽ thối tiền lẻ lại. Điều cần nhất là mình phải dùng tiền Nhật bằng kền, mới mua vé được. Bởi thế, chính phủ Nhật đúc tiền kền từ 1 đồng đến 100 đồng, trên 100 đồng mới in bằng giấy.

Tuấn gật gù khen :

- Kể ra kỹ nghệ họ tiến quá, nên cái gì họ cũng xài máy móc, bớt được nhiều nhân công. Mà đồng tiền Nhật gọi tên là gì, anh nhỉ ?

Dũng cầm một đồng tiền Nhật giơ lên :

- Gọi là đồng Yen. Đồng Yen của Nhật, nhờ mức xuất cảng trong nước mạnh, nên có giá trị quốc tế, không phải như đồng bạc Việt Nam mình phải dựa vào đồng Mỹ kim.

Bỗng có tiếng cô chiêu đãi viên nói, phát ra từ máy phóng thanh gắn trong mỗi toa xe. Dũng nhìn ra hai bên đường, rồi chỉ tay bảo Tuấn :

- Thường tàu đi qua chỗ nào có di tích lịch sử, đền thờ hoặc thắng cảnh gì, thì nhân viên trong tàu lại chỉ dẫn cho du khách hiểu. Vừa rồi là họ lưu ý chúng ta xem về phía Tây Bắc, có ngọn núi Phú Sĩ, mà dân chúng Nhật Bản tôn thờ, quý trọng. Ngọn núi này khá cao, xưa kia là một núi phun lửa, nhưng đã tắt từ lâu. Trên đỉnh núi luôn luôn có tuyết bao phủ. Về mùa hè, có người leo lên tận đỉnh núi, nhưng số đông, chỉ lên tới lưng chừng.

Tuấn vừa nghe Dũng kể, vừa phóng tầm mắt nhìn hai bên. Nhà cửa san sát, cái cao, cái thấp. Các đường xe hơi chạy rộng rãi, có thể chạy mỗi chiều 3, 4 chiếc thong thả. Xe đến các ngã tư, không phải dừng, vì có cầu bắc ngang trên cao, có đường dọc phía dưới, thật rất tiện lợi, đỡ mất thì giờ và bớt tai nạn lưu thông. Bỗng Tuấn quay lại hỏi Dũng :

- Anh Dũng nè, hình như ở đây họ lái xe đi bên trái, chứ không phải đi bên mặt như bên nước mình, phải không anh ?

Dũng gật đầu :

- Phải ! Ở Nhật, Hồngkông, bên Anh và một số nước khác, họ lái xe đi phía tay trái. Vì thế, xe cộ ở các xứ đó, bánh lái thường nằm bên phải, còn như bên mình, bánh lái để bên trái.

Xe chạy chừng nửa giờ, có lúc xe đi qua giữa phố xá, có lúc chạy gần biển, phong cảnh thật đẹp mắt. Tuấn đang mơ màng thì Dũng lay gọi :

- Tuấn ơi, đến Tokyo rồi, xuống mau !

Tuấn vội đứng lên đi theo bạn. Thành phố Tokyo thât đẹp. Đường sá rộng và sạch sẽ như được lau chùi cẩn thận ! Phố xá, cái thấp, cái cao, có nhiều dãy cao ngất, có lẽ đến 40, 50 tầng, Tuấn nhìn ngợp mắt !

Cả hai đi vào một lề phố. Người qua lại tấp nập. Đàn ông hầu hết bận âu phục. Còn phụ nữ, có người bận đầm, có người bận Kimono. Trông bề ngoài, người Nhật có vẻ nhanh nhẹn, đi lại vội vã, hình như họ ít thì giờ nhàn rỗi.

Dũng quay lại bảo Tuấn :

- Muốn sang dãy phố bên kia, phải theo đường riêng, chứ không băng ngang qua chỗ nào cũng được, như bên xứ mình đâu ! Cậu xem kìa, giữa đường xe chạy có thấy người đi bộ nào đâu !

Tuấn gật đầu :

- Kể ra họ tổ chức thật đàng hoàng, nhưng đáng phục nhất là người dân biết tôn trọng trật tự công cộng mới được như thế này.

Dũng xem đồng hồ, bảo Tuấn :

- Gần 11 giờ rồi. Chúng ta không có thì giờ để đi xem nhiều nơi đâu, Tuấn à ! Bây giờ, chúng ta vào siêu thị gần đây xem. Trong siêu thị này, anh muốn mua gì cũng có : từ cây kim, sợi chỉ cho đến chiếc xe hơi. Ở Tokyo , hầu như dãy phố nào cũng có một siêu thị.

Đi qua một căn phố trống, phía trong có bậc thang đi xuống hầm, Dũng chỉ tay bảo Tuấn :

- Đây là đường hầm đào sâu dưới đất cho tàu điện chạy khắp thành phố. Cứ 5 phút có một chuyến. Ai muốn đi xa xa, di chuyển bằng tàu điện, đỡ tốn hơn đi tắc xi.

Hai người đi đến một tòa nhà cao 14 tầng, Dũng vui vẻ bảo Tuấn :

- Siêu thị Phú Sĩ đây rồi, cậu muốn mua máy móc gì, vào đây xem.

Vừa bước vào, Tuấn đã thấy hoa cả mắt, vì cảnh rộng lớn, sáng sủa của ngôi nhà. Hàng hoá bày la liệt, nhưng rất ngăn nắp thứ tự, trông thật hấp dẫn. Dũng đọc bảng chỉ dẫn rồi cắt nghĩa cho Tuấn :

- Đây là bảng ghi cho biết tầng nào bán những thứ gì :

Tầng dưới hết, bán thực phẩm. Tầng 1, bán đồ chơi trẻ con. Tầng 2, bán máy móc, Tivi, Radio, máy thu băng, quạt máy, tủ lạnh v.v… Tầng 3, bán dụng cụ về điện. Tầng 4, bán…

Tuấn la lên :

- Thôi, thôi… biết chỗ bán radio là được rồi ! Mình lên xem, mua xong, nếu còn giờ thì đi coi mấy tầng kia, không thì thôi !

Dũng cười :

- Thì ít nữa cậu đi một vòng dưới này xem họ bán thực phẩm ra sao đã !

Nhiều hàng tủ dài, có máy lạnh, chứa các thứ rau tươi, trái cây. Các đồ hộp chất cao, loại nào theo loại ấy. Tuấn thấy các bà nội trợ đẩy xe đi vòng quanh, lấy thứ này, thứ kia, chất vào xe. Cậu ngạc nhiên, quay sang hỏi dũng :

- Sao không thấy người bán đâu cả ? Họ không sợ mất à ?

Dũng thản nhiên đáp :

- Cửa hàng rộng lớn như thế này, nhưng nhân viên rất ít. Người mua tự do chọn lựa những hàng mình thích, chất lên xe, đẩy tới văn phòng gần cửa ra. Ở đó, có nhân viên kiểm hàng và làm hóa đơn. Họ tính bằng máy điện tử, nên rất nhanh. Trả tiền xong, có người đưa ra tận xe cho khách.

Siêu thị lại còn tổ chức đem hàng đến tận nhà cho khách nữa. Các bà nội trợ, bận việc, chỉ gọi dây nói tới xin thứ này, thứ kia, trong chốc lát, có xe đưa hàng đến.

Tuấn buột miệng khen :

- Tuyệt quá nhỉ ! Tổ chức chu đáo như vậy, vừa tiện vừa lợi !

Dũng gật đầu :

- Còn việc anh hỏi : Sao họ không sợ bị mất ? Đó là anh chưa hiểu bản tính người Nhật. Người Nhật rất ghét tính trộm cắp. Có thể nói được rằng, cả triệu dân Nhật, mới có một vài người có tính tham. Bởi đó, không ai lo nạn mất cắp.

Tôi còn nhớ năm trước đây, ông chủ và tôi lên Tokyo có việc cần. Chúng tôi thuê phòng ở khách sạn, rồi đi phố. Khi trở về khách sạn, ông chủ quên cái cặp đựng nhiều giấy tờ quan hệ trong xe tắc xi. Đang lo lắng, chưa biết trình báo thế nào, thì bỗng có tiếng gõ cửa, tôi chạy ra mở : Ba nhân viên Cảnh sát bước vào hỏi tên ông chủ và giao trả cái cặp. Họ cắt nghĩa :

- Vừa rồi, một tài xế tắc xi, đến trình báo họ là có hai người Việt Nam đi xe anh ta, bỏ quên lại cái cặp trong xe, nhưng anh ta không biết địa chỉ của chủ nó. Nhân viên chúng tôi hội lại, mở cặp ra xem và thấy trong cặp có địa chỉ ghi số phòng ở khách sạn này.

Ông chủ mừng quá, cám ơn rối rít và ngỏ ý xin đưa một số tiền để thưởng công người tài xế tắc xi. Nhưng họ lễ phép từ chối :

- Đó là bổn phận của mọi công dân Nhật !

Nghe bạn nói xong, Tuấn cất mũ, cúi đầu một cách trịnh trọng :

- Thiệt tôi xin bái phục đức tính cao quý ấy của họ. Theo tôi nghĩ, họ được như thế này là nhờ một truyền thống hào hùng từ ngàn xưa để lại và nhất là từ thơ ấu, họ đã được giáo dục cho biết : đức tính thật thà là cao quý và trộm cắp, gian tham, là một cái gì đáng ghê tởm. Nhờ đó, họ cầm hãm được lòng tham của.

Dũng gật đầu, đồng ý :

- Anh nhận xét rất đúng ! Chính nhờ gương tốt của tiền nhân họ và nền giáo dục vững chắc đã đào tạo họ được đức tính cao quý đó !

Rồi Dũng vỗ vai Tuấn :

- Thôi, tụi mình lên tầng hai mua máy và đi ăn cơm trưa. Xong, chúng ta sẽ đi xem vài công viên, để trở về Yokohama , kẻo ông chủ mong.

Cả hai đi thang máy lên tầng hai. Tuấn lóa mắt vì đủ mọi thứ máy. Nguyên chỗ chưng bày Radio mà cũng đã hàng ngàn kiểu khác nhau. Tuấn và Dũng chọn một cái Radio nhỏ và một máy thu băng xinh xinh, vừa cầm, đưa đến quầy trả tiền.

Trước khi gói, họ thử cho thấy là máy tốt và chỉ dẫn cách sử dụng rất chu đáo. Đến khi trả tiền, vì họ biết hai anh là người ngoại quốc, nên họ bảo :

- Nếu hai ông có giấy thông hành, đưa cho chúng tôi ghi vào hoá đơn, chúng tôi sẽ bớt cho được hai chục phần trăm.

Dũng và Tuấn nghe vậy, khoái quá, lục túi lấy giấy thông hành đưa cho họ. Tuấn vui vẻ bảo Dũng :

- Giá bán ở đây rẻ hơn Sàigòn nhiều, lại còn được bớt nữa, đỡ quá chừng !

Mua xong, Dũng hỏi Tuấn còn muốn lên xem mấy tầng kia nữa không ? Tuấn lắc đầu :

- Xem cái gì cũng thích, mà không có tiền mua, buồn chết ! Thôi đi ăn cơm đã anh. Mọi sự hậu bàn !

Cả hai tươi cười trở xuống, đi tìm hàng cơm. Hàng cơm ở đây cũng nhiều. Tùy hạng sang, nghèo, nhưng hàng nào cũng rất sạch sẽ, thứ tự. Đủ các thứ món ăn Tây, Tàu , Nhật, tùy thích mỗi người. Dũng bảo Tuấn ăn thử cơm Nhật cho biết mùi vị. Nhật cũng dùng đũa như ở Việt Nam nhưng món ăn có vẻ khác. Các cô bồi bàn, y phục toàn trắng, tiếp đãi rất lịch sự, nhưng đứng đắn.

Cơm nước xong, Dũng đưa Tuấn tới một công viên nghỉ trưa. Công viên này khá rộng. Phía mặt tiền, một hàng cây anh đào đang trổ hoa, trông hết sức thơ mộng. Tiếp đến là bồn hoa chạy dài, trồng nhiều loại hoa quý, màu sắc rực rỡ mà Tuấn chưa hề thấy. Ở giữa công viên là một hồ sen, có hàng chục vòi nước phun liên lỉ, có nhiều loại cá vàng thật đẹp. 4 đường hình chữ thập rải sỏi trắng đi vào hồ. Ngoài ra là một thảm cỏ lúc nào cũng xanh mướt.

Phía cuối công viên là những cây cao, cành lá sum sê, rợp bóng mát. Dưới mỗi gốc cây, sắp rải rác nhiều ghế đá cho du khách nghỉ chân, ngắm cảnh.

Lúc hai anh em đến nơi, thì đã có nhiều người đang nghỉ trưa ở đó. Kẻ ngồi đọc báo, người nằm nghỉ, ai nấy đều im lặng. Dũng đưa Tuấn đi một vòng, chọn một ghế đá xa xa, vừa nghỉ chân vừa trò chuyện :

- Công viên này dành cho người lớn. Công viên của trẻ con thì có đủ thứ trò chơi : máy bay, xe lửa, tàu điện, xe hơi v.v… Nhưng phải công nhận là trẻ con ở đây chơi đùa rất lễ độ, biết giữ gìn đồ chơi chung chớ không phá phách như trẻ con xứ khác.

Tuấn ngồi xuống dựa lưng vào thành ghế, lấy mũ úp lên mặt, mơ màng :

- Tôi mới xem tận mắt nước Nhật được vài giờ mà đã thấy nhiều cái lạ lùng, huống chi là được xem cho hết, thì còn thấy biết bao nhiêu công cuộc, chứng tỏ họ văn minh và kỹ nghệ họ tiến vượt bực.

Dũng gật đầu :

- Đúng thế, nếu Tuấn được đi xem các nhà máy sản xuất xe hơi, máy móc truyền hình, truyền thanh, các xưởng đóng tàu thủy, máy bay v.v… lớn nhất nhì thế giới, chắc Tuấn phải hoa mắt !

Về kỹ nghệ, xét ra họ không thua gì các nước Âu Mỹ, mà về giáo dục, họ cũng có nhiều điểm tuyệt hảo. Trẻ con từ thành thị đến thôn quê đều bắt buộc phải học hết Trung học.

Về nghề nghiệp : ai muốn làm gì, cũng phải có bằng cấp chuyên môn, dù là những nghề rất tầm thường. Một người muốn đi xin việc làm, mà không có bằng chuyên môn, không mong được thâu nhận.

Người Nhật sống với nhau rất hòa nhã, ít gây sự với nhau, ngay trẻ con cũng thế. Có anh bạn kể cho tôi nghe : Anh ta đã ở gần hai năm giữa khu lao động, mà chưa hề thấy trẻ con đánh lộn nhau.

Nước Nhật có nhiều phong cảnh tuyệt đẹp, nơi thì hùng vĩ, nơi thì xinh xắn. Phong cảnh thơ mộng là nhờ có biển bao bọc tứ phía. Bờ biển thì chỗ nào cũng có cây thông mọc trên bãi cát hay cạnh những tảng đá, thân cây uốn khúc lả lướt trên mặt nước.

Phong cảnh nên thơ tạo cho đa số dân Nhật có óc thẩm mỹ. Họ rất thích bông hoa, âm nhạc và thể thao. Lối sống họ thật thanh nhã. Nhà nào dù nghèo, giàu, chật hay rộng, họ cũng sắp đặt đồ đạc trong nhà một cách rất mỹ thuật. Trên bàn, lúc nào cũng có một bình hoa tươi, đẹp mắt.

Hai anh em mải mê trỏ chuyện. Khi ngẩng đầu lên, thì công viên đã vắng hết người. Cả hai cũng đứng dậy. Dũng xem đồng hồ, bảo Tuấn :

- Gần 2 giờ chiều rồi, chúng mình đi về là vừa. Chuyến sau, tôi sẽ xin phép ông chủ đưa anh đi xem các cơ sở kỹ nghệ, để anh thấy cái đà tiến của họ.

Trên đường trở lại trạm tàu điện, Tuấn thấy một đoàn người ăn mặc sặc sỡ, họ mang trước ngực và sau lưng một tấm bảng lớn. Họ vừa đi vừa đánh trống, thổi kèn, vừa đọc nghê nga. Tuấn lấy làm lạ, quay lại hỏi :

- Họ làm gì thế anh Dũng ? Xuống đường hả ?

Dũng cười ngặt nghẽo :

- Chú mầy bị ám ảnh, hễ thấy đông người kéo nhau đi, là nghĩ đến chuyện xuống đường. Không phải đâu, họ đi quảng cáo hàng mới đó !

Ở đây, hàng hóa sản xuất do nhiều công ty khác nhau. Hãng nào muốn hàng mình bán chạy, phải quảng cáo thật hăng, đồng thời hàng phải tốt và rẻ. Trên thương trường, họ cạnh tranh nhau từng ly… nhờ đó mà dân nghèo ai cũng sắm sửa được đủ mọi tiện nghi theo thời đại mới !

*

Nhờ ông Thái Phong tiên liệu, Tàu Nam Hải vừa tới Cần Giờ, thì bão thổi mạnh từ Phi Luật Tân qua vịnh Bắc Việt.

Tuấn về đến Sàigòn, vội vã xin phép ông Thái Phong cho đi thăm má. Bà Hai được cái “radô” để nghe cải lương, bà mừng lắm. Còn bé Hiền, được anh Hai tặng cho cái máy thu băng, thích thú hơn được vàng.

Thôi thì cô bé xách máy đi thu đủ thứ : thu tiếng chúng bạn hát, reo cười v.v… cô còn thu cả tiếng bò rống, heo kêu, gà gáy ! Có lần, cô bé thấy má và anh Hai ngồi nói chuyện, cô lén thu vô băng, rồi mở ra cho má nghe, khiến bà ôm bụng cười ngặt nghẽo.
________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG V

Thứ Tư, 1 tháng 6, 2016

ĐỜI PHIÊU LƯU CỦA TUẤN - CHƯƠNG III

CHƯƠNG III

Lần thứ nhất, Tuấn đi Sàigòn. Chiếc xe đò chạy như bay trên xa lộ rộng thênh thang. Tuấn thích thú nhìn ra hai bên : xe cộ ngược xuôi như mắc cửi. Càng gần đến thành phố, nhà cửa hai bên càng chi chít.

Đến bến xa lộ, xe dừng lại, mọi người tranh nhau xuống. Tuấn chờ cho mọi người xuống gần hết, mới xách cặp bước xuống. Cậu đứng vào vệ đường, tần ngần nhìn kẻ qua người lại. Chỉ trong vòng mười phút, chiếc xe đò cậu vừa đi, đã đầy người, đang quay đầu trở về Thủ Đức.

Tuấn rảo bước đi vào thành phố Sàigòn. Vừa đi, cậu vừa móc túi lấy lá thư bà Tư gởi để xem địa chỉ. Tuấn ngạc nhiên, vì không thấy lá thư đâu cả. Cậu bỏ cặp xuống đất, lục hết túi trên, túi dưới, cũng chẳng thấy ! Tuấn lo sợ lẩm bẩm một mình :

- Chết cha, lá thư rơi đâu mất ! Mình đã cẩn thận cặp chung với mấy trăm bạc. Bạc còn đây, sao lá thư lại mất nhỉ ?

Tuấn bỗng nhớ ra :

- Phải rồi, có lẽ mình làm rơi trên xe đò, khi mình lấy tiền trả tiền xe ! Bây giờ mình biết làm sao mà tìm cho ra nhà bà Bích Hà đây ?

Tuấn đứng lại phân vân một lúc, rồi tiếp tục đi :

- Mình cứ đi qua cầu đến đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, rẽ sang phía trái, đi thêm một quãng độ một cây số, mình sẽ hỏi thăm nhà bà Bích Hà, chắc có người biết. Nếu tìm không ra, thì chiều mình trở về nhà lại !

Bụng nghĩ thế, nhưng Tuấn cũng hơi sợ, lỡ về nhà mà ông Tư Bá bắt gặp thì nguy !

Qua cầu, đến ngã tư, Tuấn thấy có tấm bảng treo trên cột điện, đề “Đường Nguyễn Bỉnh Khiêm”, Tuấn mừng rỡ, rẽ sang phía trái. Cậu vừa đi vừa đếm bước chân để đo đường. Độ hơn một cây số, như lời bà Tư dặn, cậu đón đường một người đàn ông đang đi ngược chiều, lễ phép hỏi :

- Thưa ông, ông có biết nhà bà Bích Hà ở đâu đây không ?

Người đàn ông đứng lại nhìn kỹ Tuấn, ngạc nhiên :

- Em hỏi như vậy, không ai biết đâu ! Thế em không biết số nhà bà ta sao ? Em ở quê mới tới phải không ?

Tuấn vững bụng, trả lời :

- Thưa ông, vâng, cháu ở Thủ Đức lên. Cháu cầm bức thơ có ghi địa chỉ nhà bà Bích Hà , nhưng rủi cháu làm rơi trên xe đò rồi !

Người đàn ông lắc đầu :

- Như vậy thì khó tìm lắm ! Hay là em thử hỏi mấy người ở trong dãy nhà này xem. Tôi ở xa không quen biết ai ở đây.

Nói rồi người đàn ông bỏ đi một mạch. Tuấn tần ngần một lúc, rồi lại đi :

- Thây kệ ! Mình cứ lang thang đây, thấy ai ở trong mấy nhà nầy đi ra, mình sẽ hỏi thăm, chứ đường đột vô nhà người ta, lỡ may chó cắn thì khổ !

Đi thêm một quãng, bỗng Tuấn thấy ba, bốn cậu ở trong hẻm trước mặt đi ra đường, rồi quẹo trái, cùng một chiều với Tuấn. Tuấn mừng rỡ chạy theo. Nghe tiếng chân thình thịch phía sau, một cậu lớn nhất, đứng lại nhìn. Tuấn vừa chạy đến, rụt rè hỏi :

- Thưa anh, anh ở đoạn đường này, anh có biết nhà bà Bích Hà, có chồng làm cảnh sát ở đâu đây không ?

Cậu kia vừa nghe xong, đã giơ hai tay lên trời, cười ha hả :

- Chú em hỏi thăm nhà kiểu đó, thì có Trời mới biết ! Miền quê thì được, chớ ở thành phố, nếu không biết số nhà thì đành chịu thôi !

Cả bọn đi trước cũng đứng lại nhìn lui. Cậu kia vừa trả lời Tuấn xong, bỏ chạy theo các bạn. Một cậu nhỏ hơn, hỏi :

- Nó nói gì mà mầy cười ha hả thế ?

- Nó hỏi thăm nhà bà Bích Hà, có chồng làm cảnh sát ở đâu đây ? Hỏi như thế mà không tức cười sao được, mầy ? Thật đúng là mán ở rừng mới về thành phố !

Cậu nhỏ kia thấy Tuấn đứng tần ngần, tuyệt vọng, lấy làm thương hại :

- Thôi, mấy anh đi tắm trước đi, để tôi lại giúp nó một chút. Cạnh nhà tôi, có ông làm cảnh sát, may ra hỏi thăm được.

Mấy cậu kia cười hề hề, bỏ đi trước. Cậu nhỏ trở lại chỗ Tuấn đứng :

- Anh hỏi thăm nhà bà Bích Hà có chồng làm cảnh sát, mà anh không biết số nhà bà ta, thì làm sao mà tìm được ?

Tuấn thấy cậu nhỏ này có vẻ thiện cảm, liền đem sự thật bày tỏ hết. Nghe xong, cậu nhỏ bảo Tuấn :

- Tôi tên là Minh, gần nhà tôi có ông làm cảnh sát, may ra hỏi thăm được. Bây giờ, tụi tôi đi tắm nơi hồ tắm gần đây. Anh đi chơi theo tôi, chốc nữa, tôi về hỏi thăm nhà cho anh.

Tuấn mừng rỡ, cám ơn rối rít, rồi lẽo đẽo xách cặp đi theo Minh. Khi cả hai tới nơi, thì bọn kia đang vùng vẫy dưới nước. Minh quay lại hỏi Tuấn :

- Tuấn có tắm không, để tôi mua cho cái vé ? Bọn tôi thì đã có “cạc” tháng rồi !

Tuấn không hiểu mua “vé”, mua “cạc” gì, nhưng cậu không muốn tắm, nên lắc đầu :

- Anh cứ tắm đi, tôi ngồi chơi chờ anh.

Minh bỏ áo xống cạnh Tuấn rồi nhảy ùm xuống nước với các bạn. cả bọn bày trò chơi tạt nước vào mặt nhau, xem ai chịu đựng được lâu. Có cậu bị tạt nước ào ào, rát quá, la oai oái. Chơi chán, các cậu lại bàn nhau bơi thi. Minh kêu Tuấn nhờ làm trong tài ra hiệu để cả bọn chơi. Tuấn thấy vui vui, đứng lên vỗ tay làm hiệu.

Tức thì “ầm, ầm” cả bọn nhào xuống bơi lấy bơi để. Đứa thì bơi ếch, đứa bơi sải, đủ kiểu. Đang bơi, bỗng Minh kêu thét lên :

- Tao bị vọp bẻ, bây ơi ! Chao ôi, đau quá !

Thấy Minh quặn người, hai tay ôm lấy chân, rồi chìm nghỉm, cả bọn sợ quá, bơi vội vào bờ, kêu cứu vang lên. Nhưng rủi người gác đi chơi đâu, kêu mãi mà không thấy ai ra tiếp cứu hết. Tuấn đứng trên bờ, thấy vậy, để nguyên áo quần, nhảy ùm xuống hồ.




Tuấn vốn bơi giỏi và biết cách cấp cứu người chết đuối, nên cậu cẩn thận lặn xuống sâu để xem xét. Cậu thấy Minh, hai tay quờ quạng dưới đáy hồ. Tuấn bơi nhẹ nhẹ đến phía sau lưng Minh, đỡ bổng Minh lên mặt nước. Tuy cẩn thận thế, mà suýt nữa tay Minh nắm phải đầu Tuấn.

Tuấn đẩy Minh vào đến bờ hồ, cả bọn xúm lại kéo Minh lên, thì người gác cũng vừa chạy đến cấp cứu. Tuấn trèo lên bờ. Tuy không bị uống nước, nhưng vì nín thở quá lâu và phải vật lộn với Minh, nên Tuấn mệt lử. Cậu đang ngồi thở dốc, thì cha mẹ Minh - nhờ một cậu chạy về báo tin - cuống cuồng chạy tới.

Thấy con đã tỉnh táo, ông bà sung sướng trào nước mắt. Khi nghe các bạn Minh thuật chuyện lại, ông bà vội vàng chạy đến, nắm lấy tay Tuấn, cám ơn rối rít. Minh cũng đến ôm choàng lấy Tuấn. Thấy áo quần Tuấn ướt mèm, ông thân của Minh nói với Tuấn :

- Cháu à, việc trước hết là cháu về nhà ông bà để thay áo xống đã, kẻo bị cảm. Chu yện gì khác sẽ hay !

*

Sau khi nghe Tuấn kể hoàn cảnh, ông thân của Minh ôn tồn bảo Tuấn :

- Cháu quả thật là một cậu bé đầy lòng vị tha và can đảm, ông bà cảm phục cháu lắm. Bây giờ, ông bà bàn với cháu như thế này :

Cháu chả cần đi tìm nhà bà Bích Hà làm gì nữa, cháu cứ ở lại đây với ông bà. Ông bà nhận cháu làm con nuôi, cho cháu đi học với em Minh.

Ông trầm ngâm một lúc rồi nói tiếp :

- Nói cho cháu rõ : Ông là ông Thái Phong, làm chủ chiếc tàu buôn Nam Hải. Ông bà không giàu có lắm, nhưng nhờ Trời cũng dư ăn. Ông bà hiếm hoi, chỉ sinh được một mình em Minh đó mà thôi ! Vậy mà hôm nay, nếu không có cháu, thì em Minh đâu còn nữa ? Cho nên, chính cháu là cứu tinh của gia đình ông bà đó !

Cháu cứ yên tâm ở lại đây, chỉ viết thư về cho má cháu rõ, để má cháu cho bà Tư hay. Mai mốt yên yên, ông sẽ đem cháu về thăm má và em cháu.

Tuấn cảm động, khóc sụt sùi : Cậu không ngờ hạnh phúc lại đến với mình một cách quá đột ngột như thế. Cậu nghẹn ngào, không nói lên được lời gì.

Bà Thái Phong thấy Tuấn làm thinh, bà nghĩ thầm : có khi nó sợ bà gượng ép theo ý muốn của ông, nên bà vuốt tóc Tuấn, ngọt ngào :

- Con đừng nghĩ ngợi gì hết. Tuy mới biết con, nhưng ông bà thương con cũng như thương em Minh vậy !

Minh cũng nắm lấy tay Tuấn :

- Anh Tuấn ở lại đây với em đi. Anh em mình sẽ đi học với nhau !

Tuấn ngước mắt đẫm lệ nhìn ông bà, đầy vẻ biết ơn :

- Thưa hai bác, cháu không dám nghi ngờ lòng tốt của hai bác đâu, nhưng vì cháu sung sướng quá, nên không nói ra được đó thôi ! Cháu được hai bác thương nhận làm con, cháu đội ơn hai bác không biết chừng nào !
____________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG IV

ĐỜI PHIÊU LƯU CỦA TUẤN - CHƯƠNG II

CHƯƠNG II

Tuấn đến ở với ông bà Tư Bá đã được một tuần. Công việc của Tuấn : buổi sáng, lùa 2 con bò mẹ và 4 con bò con ra đồng cho ăn cỏ. Buổi chiều, đi cắt cỏ và dọn dẹp trong vườn. Công việc không có gì nặng nhọc lắm, nhưng phải làm luôn tay.

Khu vườn ông Tư khá rộng, có lẽ gần ba mẫu tây đất. Vườn bao một hàng giậu kín, có mương nước chạy vòng quanh. Trong vườn trồng nhiều cây ăn quả : dừa xiêm, xoài, ổi xá lỵ, mãng cầu v.v… Cây cao, cây thấp, rợp bóng mát.

Giữa vườn là nhà ở : Một nhà lớn nằm dọc và một nhà nhỏ nằm ngang. Nhà xây gạch, lợp ngói, theo lối cổ. Nhà lớn là nhà ở, còn nhà nhỏ làm kho lúa và làm nhà bếp. Trước nhà là một sân rộng, tráng xi-măng.

Ông Tư Bá là một điền chủ hạng trung bình. Ruộng đất ông đều cho người ta canh tác. Đến mùa, họ đong lúa cho ông. Ông chỉ chăm sóc vườn cây ăn trái và nuôi vài cặp bò sữa.

Ông Tư Bá còn có một sở thích đặc biệt là sưu tầm đồ cổ. Hễ ở đâu, dẫu xa xôi, có những đồ cổ muốn bán, ông cũng lần mò đến xem, hợp ý thì giá nào ông cũng mua. Hai gian nhà lớn, gồm phòng khách và gian chái, là giang sơn riêng của ông chứa đồ cổ : các chậu, bình, bằng sứ, bằng đồng, đủ kiểu lớn nhỏ. Theo các nhà sành sõi nhận xét, có nhiều thứ sản xuất từ mấy thế kỷ trước.

Thường ngày, ông Tư ở nhà lau chùi, đánh bóng, hết bình đồng này, đến chậu sứ khác. Khi ông đi đâu vắng, thì ông đóng cửa kỹ.

Ông bà Tư Bá sinh được 4 đứa con, nhưng chỉ nuôi được 1 gái và 1 trai : Cô Thu Dung 10 tuổi và cậu Vinh, 8 tuổi. Thu Dung học lớp nhì, Vinh học lớp tư, tại trường xã.

Bản tính ông Tư Bá nghiêm trang, ít nói, hòa nhã với mọi người. Ông ít giao thiệp, hằng ngày chỉ quanh quẩn trong vườn với mấy cây ăn quả và với mấy món đồ cổ của ông. Bà Tư là người từ tâm hiếm có. Hễ chòm xóm láng giềng, ai gặp hoạn nạn gì, bà đều tận tình giúp đỡ. Bởi đó, người trong xã đều cảm mến ông bà.

Mấy ngày đầu, Tuấn mới đến giúp việc, chiều nào, bà Tư cũng cho Tuấn ăn cơm sớm để về nhà với má. Nhà ông bà Tư ở xóm trên, nhà Tuấn ở xóm dưới, cách nhau độ vài cây số, nhưng đường nhỏ khó đi. Nhất là Tuấn phải đi ngang qua một bãi tha ma lạnh lẽo, dễ sợ.

Bà Hai bị ám ảnh bởi cái chết của chồng vì rắn độc, nên lúc nào bà cũng phập phồng lo sợ cho con. Bà lên xin bà Tư đừng cho Tuấn về nhà mỗi tối nữa, mà chỉ cho về chiều ngày chủ nhật.

Lúc đầu lạ, sau quen dần, Tuấn bắt đầu thích thú công việc mới. Cậu săn sóc tắm rửa, trìu mến vuốt ve mấy con bò. Mấy con vật này cũng quen hơi cậu, nhất là mấy con bò con, hễ thấy cậu ra mở cửa chuồng, là chúng nó nhảy nhót tưng bừng, lè lưỡi liếm vào tay cậu và húc đầu vào người cậu như để tỏ lòng yêu mến.

Buổi tối, không có việc gì làm, Tuấn đọc sách và nhiều khi chỉ vẽ bài vở cho Thu Dung và Vinh. Dần dần, hai đứa nhỏ thương mến Tuấn như anh ruột. Ông bà Tư rất bằng lòng tính nết Tuấn. Thỉnh thoảng, bà Tư lại cho Tuấn đem Thu Dung và Vinh về dưới nhà chơi trọn ngày chủ nhật. Xem ra bé Thu Dung và bé Hiền hạp tính nhau lắm. Hai chị em chơi với nhau, ríu rít cả ngày không chán.

*

Một buổi chiều, Tuấn đi cắt cỏ về, thấy em Vinh đang ngồi khóc trước cửa. Tuấn lấy làm lạ, hỏi :

- Vinh, sao em khóc ?

Vinh mếu máo :

- Em đuổi con mèo, nó nhảy qua cửa sổ vô phòng ba, em nghe “xoảng” một tiếng không biết nó làm vỡ cái gì của ba, em sợ ba về ba đánh em !

Tuấn tái mặt, hỏi dồn :

- Thế ba má và Thu Dung đi đâu ?

Vinh vẫn sụt sùi :

- Ba sang đánh bài bên bác Ba, còn má và chị Thu Dung đi thăm bà Năm đau bịnh.

Tuấn bỏ giỏ cỏ trước sân, vào nhà xem. Cái cửa phòng trong ăn thông sang phòng khách, thường ông Tư đi đâu, ông đóng kỹ, hôm nay ông lại quên không đóng. Tuấn lấy ghế trèo lên nhìn qua. Cậu suýt la to lên, vì vật bị mèo làm vỡ, chính là cái bát Giang Tây rất quý, mà ông Tư mới mua được vài hôm nay !

Theo lời ông thuật lại, thì cái bát quý giá này có từ đời vua Khang Hy bên Tàu. Phía trong đáy bát, họ vẽ hai con cá vàng vờn nhau, chung quanh có những cành rong xanh. Nét vẽ rất tinh xảo. Đặc điểm quý giá của nó là lúc ban đêm hay trong phòng tối, thắp một ngọn nến, đổ nước trong vào bát : Dưới ánh đèn lung linh, người ta sẽ thấy hai con cá vàng sống động đang bơi lội đùa rỡn với nhau trong bát !

Thế mà bây giờ nó bị vỡ rồi ! Tuấn lo sợ cho em Vinh, tuy không phải chính nó làm vỡ, nhưng vì nó đuổi con mèo, chắc ông Tư sẽ cho nó một trận đòn nên thân, vì ông quý cái bát này lắm. Ông còn đang dự định làm một bữa tiệc mời bà con đến thưởng thức cái bát quý. Ai dè !

Tuấn nhảy xuống khỏi ghế, ra sân. Em Vinh chạy lại ôm lấy Tuấn, oà lên khóc :

- Anh Tuấn ơi, bây giờ làm sao, anh ? Ba về, ba đánh em đau lắm !

Tuấn thương hại, cậu nghĩ cách cứu em :

- Thôi em đừng khóc nữa ! Để anh nhận với bác là chính anh đuổi con mèo. Nhưng em phải đi chỗ khác chơi. Nếu bác có đánh anh, em cũng đừng nói gì hết, nghe ! Anh lớn rồi, bác đánh anh không đau đâu, em đừng lo !

Bé Vinh nghe anh Tuấn nói thế, nhoẻn miệng cười, nét mặt rạng rỡ :

- Cám ơn anh ! Khi ba về, em sẽ ra sau vườn chơi.

Tuấn đem cỏ cho bò ăn, rồi vào đứng xớ rớ trước sân nhà, phập phồng chờ đợi tai hoạ sẽ đến, không biết nặng nhẹ thế nào ?

*

Ông Tư vừa mở cửa bước vào phòng, đã chạy ra hét oang oang :

- Đứa nào làm vỡ cái bát của tao rồi ? Đứa nào ?

Tuấn tái mặt, chắp tay, ấp úng :

- Thưa bác, cháu… cháu…

- “Bốp, bốp”, mầy à ! Mầy làm sao, thằng quỷ kia ?

Hai má thằng Tuấn đỏ hồng, in rõ bàn tay ông Tư, mắt nó nảy đom đóm :

- Thưa bác, cháu đuổi con mèo, rủi nó nhảy qua cửa sổ vào phòng làm vỡ cái bát !

Ông Tư tiếc của đay đảy, hét lên :

- Mầy đuổi con mèo, con mèo làm vỡ, tức là mầy làm ! Tao bắt mẹ mầy phải bán nhà mà đền cho tao !

Rồi ông ngồi phịch xuống sân, rên rỉ :

- Trời ơi ! Tôi mua được cái bát quý hơn vàng ngọc, chưa kịp xem cho thỏa, thì nó đã làm vỡ mất rồi ! Trời ơi là trời !

Bà Tư và Thu Dung vừa về đến cổng, nghe tiếng ông quát tháo, chạy vội vào. Bà dịu dàng hỏi ông :

- Có chuyện gì thế, ông ?




Ông Tư đứng dậy, nắm lấy hai tay Tuấn, mắt ông vẫn còn long lên sòng sọc :

- Tôi vội đi quên đóng cửa sổ, thế là cái thằng quỷ này đuổi chó mèo làm sao mà mèo nhảy qua cửa sổ vô phòng làm vỡ mất cái bát Giang Tây quý giá, tôi vừa mua được hôm kia rồi !

Bà Tư chưng hửng, đứng yên một lúc, bà cũng tiếc của, nhưng sự đã rồi biết làm sao ? Bà ngọt ngào nói với chồng :

- Thôi, ông à ! Cháu nó lỡ dại, mình tha cho nó. Rồi mình sẽ kiếm mua cái khác !

Ông Tư cười sằng sặc, giọng cười nghe ghê rợn :

- Mình tưởng kiếm mua cái khác dễ lắm à ? Mình thử tìm xem khắp thế giới này, xem còn cái nào nữa không, chứ đừng nói tìm khắp nước Việt Nam này ! Không, tôi sẽ bắt má nó bán nhà đi mà đền cho tôi.

Bây giờ tôi tạm giam nó trong kho lúa, nhưng tôi cấm mình không được cho nó ăn. Ngày mai, tôi sẽ kêu má nó tới đây !

Nói rồi, ông bỏ vào nhà, đóng cửa lại. Tối hôm ấy, ông uống rượu say mèm rồi lăn ra ngủ. Bà Tư lén đem cơm cho Tuấn ăn và đem mùng, chiếu cho nó ngủ.

Cơm tối xong, ba mẹ con bà Tư buồn bã, cũng đi ngủ sớm. Bé Vinh nằm cạnh mẹ, khóc thút thít. Bà Tư ngạc nhiên hỏi con :

- Vinh, làm sao mà con khóc ?

Bé Vinh ôm lấy mẹ, mếu máo :

- Thưa má, chính con đuổi con mèo vô phòng ba, chớ không phải anh Tuấn đâu !

Bà Tư sửng sốt, ngồi dậy, hỏi nhỏ :

- Thật thế sao con ?

- Thưa má, đúng như vậy. Anh Tuấn sợ ba đánh con đau, nên anh bảo con đi chơi chỗ khác, để ba về, anh nhận là anh đã đuổi con mèo !

Bà Tư không ngờ Tuấn lại có lòng hy sinh đại độ như thế, bà vội vàng xuống mở cửa kho, ôm lấy Tuấn, giọng bà nghẹn ngào :

- Con ơi, bà biết con thương em Vinh mà cam lòng nhận tội thay cho nó. Con thật là đại lượng, bà cám ơn con lắm. Nay việc đã lỡ dĩ rồi, bà tính như vầy :

Bà có một người em gái tên là Bích Hà lấy chồng làm cảnh sát ở Sàigòn. Bà viết một lá thư ghi địa chỉ rõ cho con cầm lên cho em bà. Em bà sẽ cho con ở tạm. Vài hôm nữa, bà lên Sàigòn, sẽ lo mọi sự cho con.

Bà ngẫm nghĩ một lát rồi nói tiếp :

- Bây giờ, con thu xếp áo quần, bà đi viết thư. Con về thưa má con tự sự, rồi sáng sớm, con ra đón xe đò đi Sàigòn ngay.

Nhà em bà rất dễ tìm. Đến bến xe xa lộ, con xuống xe, đi bộ qua cầu Phan Thanh Giản vào thành phố Sàigòn. Con cứ đi thẳng cho đến ngã tư, con rẽ sang phía trái là đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Con đi lên độ một cây số, rồi xem số nhà bà ghi trên bao thư, hỏi thăm người ta chỉ nhà cho con. Nếu con không gặp ai, con lại hỏi thăm mấy ông cảnh sát gác giữa đường.

Con cứ yên tâm mà đi, mọi sự ở nhà có bà lo xong hết. Bà sẽ liệu cách giúp đỡ má con.

Đêm ấy, hai mẹ con bà Hai ngồi nói chuyện với nhau suốt đêm. Đến sáng, bà Hai đưa Tuấn ra đường, đón xe lên Sàigòn. Bà đứng nhìn chiếc xe đò chở con đi khuất rồi mới trở về.
________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG III