Thứ Năm, 13 tháng 7, 2017

Xóm Nhỏ - Chương 3 - 4

Chương 3

Khi trời bắt đầu đổ những trận mưa như trút nước, ấy cũng là lúc anh em tôi đi học lại. 

Cả ba anh em tôi cùng xin chuyển về trường tiểu học Chuyên Cần ở ấp bên kia đường. Những cơ sở, nhà cửa quan trọng trong ấp bên ấy đều tập trung ở một khu có tên là Khu Trụ Sở. Trường Tiểu học Chuyên Cần nằm đối diện với văn phòng ấp và về phía trái của ngôi nhà thờ nhỏ. Từ nhà tôi đến trường, trừ quãng đường từ trong xóm ra đến đường cái, còn đi dài non cây số. Đường có xe lam nhưng chúng tôi phải đi bộ (còn đâu thuở xưa một bước là đi xe, hai bước cũng đi xe). Cái Trâm, cái Loan học sáng, mẹ tôi lại dẫn hai chị em nó đến trường rồi quay lại đi chợ (chợ ấp gần nhà tôi hơn, khoảng non nửa cây số). Trưa đến, hai chị em về với nhau, không có người đưa đón, được đặc biệt đi xe lam. Buổi sáng, nhà chỉ còn mình tôi. Chừng tám rưỡi, chín giờ bố tôi đi bán phở mới về, mẹ tôi đi chợ mới xong. Nhưng người lớn có việc của người lớn, đâu rãnh hơi chơi với trẻ con. Thành ra tôi trở nên cô đơn vô cùng. Sáng ở nhà buồn nản, chiều đi học một mình, chỉ có buổi trưa, khi cái Trâm, cái Loan đi học về là tôi thấy vui vui một chút. Tối đến, cái Loan hay theo bố đi bán phở lắm! Mà có lẽ nó cũng vui thật chứ, cứ căn cứ vào những lời nó kể lại những chuyện nó biết trong lúc đi với bố, tôi cũng thấy thinh thích rồi. Một đôi khi, tôi có ý định xin đi bán với bố để được biết những điều mới lạ như em gái tôi, nhưng liền sau đó, tôi thấy không thể được. Thẹn làm sao ấy! 

Cái Trâm lên lớp ba, không còn học cô mà học thầy. Con bé cứ nhăn mặt mà than là thầy giáo khó quá, hay khẽ tay, hay bắt quỳ quá. Cái Loan vào lớp năm, học cô giáo hiền, và, nó đã được tôi kèm trước ở nhà, nên chẳng có gì phàn nàn cả. 

Phần tôi, cô giáo lớp nhất của tôi thì khỏi nói, dữ thật là dữ. Ấy thế mà khi tôi vừa ngỏ lời với bố tôi rằng: 

- Cô giáo của con dữ ghê bố à. 

Bố tôi gạt phăng ngay: 

- Phải vậy mới được. Không dữ thì còn lâu chúng mày mới chịu học. Mà không học thì đừng hòng vào đệ thất trường công được... 

Một chiều, lớp chúng tôi gặp bài toán khó. Gần đến giờ về mà đa số còn phải cắn bút. Cô giáo ra hạn cuối cùng là khi chuông reo, cả lớp phải gộp bài. Nhưng đúng lúc cô vừa nói xong, trời bỗng sụp tối hẳn. Không ai bảo ai, cả lớp cùng nhìn ra ngoài trời. 

Mây đen không biết từ đâu kéo ập đến che kín bầu trời. Gió ào ào thổi. Quang cảnh trước sân trường- cũng là sân trụ sở ấp, sân nhà thờ- thật nhộn nhịp. Người đi qua, kẻ chạy lại, gọi nhau ơi ới. Gió mỗi lúc một mạnh, trời mỗi lúc mỗi tối. Lũ gà quang quác rủ nhau về chuồng. Mấy chú chó chạy lăng quăng, thỉnh thoảng sủa vang chừng như để đón mừng cơn mưa sắp đổ xuống. 

Rồi những tiếng lộp độp vang lên. Sau đó là những tiếng rào rào liên tiếp. Nước mưa đan mành trắng xóa. Chiều gió thổi về phía lớp học chúng tôi, mưa hắt đến phần ba lớp làm chúng tôi dạt hẳn vào trong. Đến khi gió đổi chiều, mưa nhẹ đi, chuông về học cũng vừa reo vang. Cô giáo chúng tôi nói: 

- Thôi, khỏi góp bài. Cô cho về nhà làm mai góp. 

Chúng tôi reo ầm lên, thầm cảm ơn cơn mưa đã đến thật đúng lúc. 

Nhưng rồi sau đó, tôi thấy hết còn cảm ơn cơn mưa được nữa. Vì nó kéo dài quá. Nửa tiếng đồng hồ mưa như trút nước mà vẫn chưa thấy giảm chút nào. Cơn mưa quái quỷ như trêu ghẹo, thỉnh thoảng cũng tạm ngớt đôi chút, nhưng liền sau đó lại ào ào, ầm ầm như cũ. Dù có đem theo áo mưa, nhưng như một số lớn bạn bè, tôi cũng không dám ra về. Mưa lớn quá mà... 

Một tiếng đồng hồ sau, bầu trời mới được trả lại màu trong xanh ngát, tuy nhiên, màu xanh tươi mát này chỉ tồn tại được vài phút với nắng quái đỏ au, với vắng lặng không gian rồi trời bắt đầu hoàng hôn. 

Bây giờ mới đúng là giờ tan học của trường tiểu học Chuyên Cần. Học sinh chúng tôi từ các hiên lớp cùng ào ra sân một lượt, phân tán vào các ngõ hẻm chung quanh hoặc hướng ra đường cái. Ở vùng này, chỉ có nền nhà thờ là cao nhất, nước lăng quăng chảy thành những dòng sông đan quấn lấy nhau từ phía nhà thờ đổ xuống đường. Nơi này cũng là đầu mộc con dốc dài đến tận xóm tôi, mà chỗ trũng nhất là cổng chợ ấp. 

Chưa bao giờ tôi được chứng kiến một hoạt cảnh lạ như thế này. Nước chảy dồn từ đầu dốc về những chỗ trũng. Ở đoạn đường ngang cổng chợ, nước đến gần đầu gối. Nhà cửa quanh khu này không nhà nào không bị ngập. Tôi ngạc nhiên thấy mọi người có vẻ bình tĩnh lạ, không chịu tát nước gì cả. Sau này tôi mới hiểu: họ đợi nước rút về phía khu rừng thưa rồi mới tát, lau chùi đồ đạc. 

Xe cộ nằm chết máy la liệt. Không một chiếc xe gắn máy, chiếc xe lam nào đi qua cổng chợ lại không bị chết máy. Nước đến đầu gối hỏi sao không lọt vào máy? Cho đến xe hơi, chỉ trừ những chiếc xe lớn, còn loại xe Nhật lùn, cố lắm thì được qua khỏi vùng nước này được mươi thước, là xuống đẩy. 

Xe lam, xe gắn máy, xe hơi đậu nối đuôi nhau dọc theo đường cái để sửa chữa. Và cái đám xe cộ này dài từ cổng chợ đến tận xóm tôi! 

Lội qua vùng cổng chợ, tôi len lỏi giữa những chiếc xe chết máy lần về nhà.Nơi này bác tài xe lam sau một lúc đạp máy mệt nhọc, vừa đứng thở hào hển vừa cưới lắc đầu. Chỗ kia, một ông loay hoay tháo bu-gi ra chùi. Anh nọ mím môi đạp lấy đạp để chiếc Honda, nước tuôn từ ống hãm thanh ra có vòi. Từng đám trẻ xúm nhau lại đẩy hộ chiếc xe hơi... 

Dân chúng trong vùng hầu như ra cả ngoài đường, ít lắm cũng đứng nơi hàng hiên nhìn cảnh xe cộ chết máy, thăm dò mực nước, bàn tán hay trò chuyện. Tôi để ý và nghĩ rằng có lẽ cảnh này vẫn thường xảy ra hàng năm, mỗi khi mùa mưa đến, nên mọi người cũng như không mấy chút quan tâm, lo lắng. 

Về đến đầu ngõ vào xóm tôi, thêm một sự ngạc nhiên và lẫn vào đó, một ý vui vui, khi tôi thấy xóm tôi đầy ứ nước. Mà không phải chỉ đến đầu gối như ở khu cổng chợ đâu, nước đến ngang bắp đùi tôi. 

Tôi bước vào ngõ, nước ở nơi tiếp giáp với đường cái này đến mắt cá, sau đó, tăng lên dần theo chiều dốc của con ngõ với mặt đường. Bỗng có tiếng người gọi tôi: 

- Này, thằng con ông bán phở đấy phải không? 

Tôi quay lại, hướng về phía có tiếng hỏi. Ông Tâm xích lô đứng trước hiên nhà với đám con, chỉ tay về phía tôi, hỏi tiếp: 

- Mày đi học về đấy phỏng? 

Tôi đáp vâng. Ông Tâm: 

- Vào đây đợi một tí cho nước rút rồi hẵng về... 

Tôi ngần ngừ vì trời đã sập tối, giờ này, có lẽ bố mẹ và các em tôi đang mong tôi lắm. Ông Tâm: 

- Nước ngập thế kia mà mầy định đi đâu? Vào đây! 

Không hiểu sao tôi riu ríu nghe lời ông Tâm, lội dần về phía hiên nhà ông ấy. Nhìn vào trong nhà, thấy những món đồ lặt vặt trôi lềnh bềnh trên mặt nước, tôi kêu lên: 

- Chết! nhà bác ngập hết rồi. 

Ông Tâm cười hì hì: 

- Nhà ai lại không ngập. Tí nữa về nhà mầy rồi mầy thấy. Chẳng kém gì nhà tao đâu... 

Tôi tưởng ông Tâm nói đùa, ngơ ngác nhìn, chừng như đoán được ý tôi, ông Tâm nói: 

- Nhà mầy mới dọn đến đây và trận mưa này mới là trận mưa lớn đầu mùa nên mầy không biết đấy , chứ ở đây, bị thế này là thường, chẳng năm nào tránh thoát... 

Tôi hỏi: 

- Thế cả xóm mình đều bị ngập hết sao bác? 

- Ờ... hầu hết bị ngập... Chỉ trừ mấy nhà kha khá như nhà ông lang Nhiêu, nhà ông phán Cử, nhà ông giáo sư Phủ... Học có tiền, họ đổ nền cao nên mùa mưa đến, nhà ai ngập thì ngập, họ cứ bình chân như vại, chả phải lo lắng gì... 

- Sao những nhà khác không đổ đất như họ? 

Hỏi xong, tôi mới thấy mình đã hỏi một câu vô duyên quá chừng đi. Thì ra trong trí tôi, tôi vẫn còn mang nặng hình ảnh huy hoàng của cuộc sống trước kia, chuyện gì cũng có thể giải quyết được dễ dàng nhờ sẵn tiền, sẵn bạc. Than ôi! Tôi đã quên rằng hiện giờ tôi đang sống trong cái xóm nhỏ nghèo nàn... 

Ông Tâm cười hô hố trả lời tôi: 

- Đổ đất hở? Tiền đâu mà đổ? Tám chín trăm một xe đất chứ ít ỏi gì .Rồi còn tiền công gánh đất vào nhà nữa, nhà gần đường thì chẳng nói gì, nhưng nhà trong xóm thì biết bao nhiêu là tốn kém . Mà đã đổ nền cao lại phải sửa nhà, chứ không thì ra vào có mà đụng đầu. 

Im lặng một chút, ông Tâm chép miệng: 

- Nhưng đổ đất thì ích gì. Mưa lớn, mau bị ngập thật đấy nhưng nước nó rút cũng chẳng lâu gì. Chỉ tội cái mình phải lau nhà cửa... Mà có sao, cũng là dịp để mình chùi rửa lại đồ đạc trong nhà... 

Đúng như lời ông Tâm, nước đã rút khá nhiều chỉ trong khoảng thời gian tôi đứng nói chuyện với ông ấy. Thấy có thể về được, tôi xin phép ông Tâm để về. Ông vui vẻ: 

- Ừ, mầy về đi thôi. Tối nay cố mà thức để lau nhà nhé! 

Tôi nói cám ơn rồi ôm cặp bước ra khỏi hiên nhà ông Tâm, lội lõm bõm về nhà. Nước chỉ còn ngập ngang ống chân tôi, chảy xiết về phía cuối xóm. Đường đi trơn, nước ngập, nên không biết chỗ nào có ổ gà nữa, tôi phải bước chầm chậm dò dẫm. Nhỡ lọt ổ gà thì nguy lắm! 

Bố tôi đứng trước hiên nhà, thấy tôi về, bố hỏi: 

- Áo mưa đâu không mặc? 

Tôi đáp và kể chuyện nước ngập đằng cổng chợ, xe cộ chết máy ngoài đường. Mẹ tôi, cái Trâm, cái Loan nghe qua, đòi ra ngoài đường xem. Nhưng bố tôi gạt phăng đi: 

- Xem với xét cái gì? Ở nhà lo tát nước, lau bàn ghế... 

Mẹ và các em tôi tiu nghỉu. Bố tôi lấy cái áo khoác vào rồi xăm xăm định ra khỏi nhà. Mẹ tôi hỏi: 

- Thế ông định đi đâu đấy? 

Bố tôi đứng lại ngần ngừ một chút rồi bố cười, nụ cười rất buồn cười: 

- Ồ... thì ... thì đi ra ngoài đường xem sao? 

Mẹ tôi: 

- Cho cái Trâm, cái Loan đi với! Tưởng không cho mẹ con người ta đi thì cũng ở nhà chứ, ai ngờ... 

Bố tôi chỉ còn biết cười trừ, ngoắc gọi cái Trâm, cái Loan cùng đi. 

Tôi lội lõm bõm trong nhà. Nước đã hạ nhiều nhưng ngấn nước còn đọng rõ quanh mấy bức tường gỗ. Mấy cái ghế đẩu đổ xiêu, đổ vẹo cho tôi hình dung được cảnh trôi nổi bềnh bồng của chúng lúc nước lớn. Dép, guốc, những vật dụng hàng ngày vẫn để dưới đất, cả chiếc xe bằng hai ống bơ sữa bò của cái Loan, vất cả trên giường mẹ tôi. Giường bố con tôi, chiếu quấn gọn, chất chồng nào bao gạo, nào bao than, ngấn nước đến gần sát dát giường. Mẹ tôi nói: 

- Giá mưa thêm lúc nữa thì thật không biết phải chạy đồ chạy đạc đi đâu cho khỏi ướt... 

Rồi mẹ chép miệng: 

- Cớ sự này chắc phải kê giường tủ bàn ghế lên thật cao mới được... 

Thốt nhiên, tôi ngước nhìn trần nhà. Mẹ tôi cũng nhìn theo, rồi mẹ lắc đầu ngao ngán: 

- Mà cái trần thấp lè tè thế kia thì kê cao thế nào được. Khổ quá! 

Tối đến, cả nhà tôi xúm lại, người một tay một chân lo tát nước, lo lau chùi bàn ghế, giường tủ cùng những đồ dùng khác. Như tôi đã có lần kể, nước nôi trong xóm tôi rất thiếu thốn. Cả xóm chỉ có một cái giếng dùng chung. Mẹ tôi phải một lần đi lấy nước giếng, đợi cả buổi, sợ khiếp rồi. Mẹ đành đi xin nước giếng,hoặc mua nước máy ở bên kia đường. Nhà tôi có hai cái phuy lớn, mẹ tôi lấy đầy hai phuy, cứ hết một lại lấy đầy, thường thì hai ngày mới hết một phuy. Thế mà để rửa nhà- tát nước xong, nền xi măng nhà tôi đầy rác, đất đỏ nhơn nhớt, hôi hám- một phuy nước hết sạch sành sanh! 

Chín giờ tối , cả nhà mới ăn cơm. Bữa cơm thật ngon vì nhiều lẽ. Lẽ trước tiên là tất cả cùng đói quá. Lẽ kế đến là sự vui vẻ trong câu chuyện thời sự vừa xảy ra, cái Trâm, cái Loan tranh nhau kể cho mẹ tôi nghe cảnh xe cộ chết máy ngoài đường, bố tôi hỏi thăm tôi về mực nước ngập đằng cổng chợ... Và lẽ cuối cùng, tối nay bố tôi không đi bán phở được. Có bố tôi là có sự vui vẻ, tôi cảm thấy như vậy. 



Trời mưa, nhất là những ngày mưa lớn vào buổi chiều, đã cản trở việc buôn bán của bố tôi. Tuy rằng xe phở mỗi sáng vẫn đắt khách, nhưng xe phở mỗi tối có vẻ ế ẩm hẳn. Trời mưa lại cứ nhè vào lúc bố tôi sửa soạn nấu nước dùng, sửa soạn đi lấy bánh mà đổ ập xuống. Có hôm, sắp nấu nước dùng thì trời chuyển mưa. Bố tôi nhìn trời mà đoán chắc thế nào cũng mưa, không nấu nước dùng nữa. Rồi tối hôm ấy, sau đám mây đen vần vũ dữ tợn, gió lớn đưa chúng đi đâu mất, chẳng một giọt mưa rơi! Cũng có hôm, khi ra đi thì trời bình lặng, mới bán được vài ba bát phở, cơn mưa ập xuống. Thế là phải chạy vội chạy vàng về nhà. Ế hoàn toàn một xe phở! 

Bời thế bố tôi mới nghĩ đến một việc phụ. Bố bàn với mẹ rồi liên lạc xin mở một sạp báo. Nhờ khéo ngoại giao, mọi việc xong xuôi. Gia đình tôi có một sạp báo bày bán trước ngõ vào xóm, ngay bên đường cái. Ngoài báo chí hàng ngày, sạp báo của gia đình tôi cũng có bán các tuần báo, các nguyệt san và cả vé số nữa! Mẹ tôi đặt thêm một quầy hàng nhỏ bán thuốc lá , diêm quẹt, kẹo sinh-gôm. 

Từ khi có thêm sạp báo, mọi người trong gia đình tôi đều có việc làm, nghĩa là ai cũng có phần trong việc gây quỹ cho gia đình cả. Sáng sớm , bố tôi đẩy xe phở đi bán, cái Trâm, cái Loan đi học, mẹ tôi ra sạp báo, tôi trông nhà. Vào giờ mẹ tôi phải đi chợ, tôi ra thay. Buổi chiều, trong lúc tôi đi học, bố tôi trông sạp báo từ trưa đến ba bốn giờ thì trở về lo sửa soạn xe phở. Sau đó, sạp báo giao cho mẹ tôi, có thêm cái Trâm hoặc cái Loan phụ giúp. Tối đến, nếu trời không mưa, cái Loan theo bố tôi đi bán phở. 

Việc đi theo xe phở, dù đôi khi tôi muốn lắm, nhưng tôi thú thật là tôi không đủ can đảm để đi. Tôi biết, bán phở cũng là một nghề tốt đẹp, không gì mà xấu hổ. Nhưng thật khó hiểu, tôi vẫn chưa chấp nhận được rằng đó là một nghề của bố tôi! 

Không theo xe phở, tôi không có quyền từ chối ngồi bán báo những lúc nhà neo người nữa. Dù rằng với tôi thì ngồi bán báo hay đi theo xe phở cũng thế, nó kỳ kỳ sao đâu ấy! Cứ nghĩ đến ngày xưa , khi còn ở trên tỉnh, và nhìn lại mình bây giờ, là tôi muốn khóc. Và hôm nọ, tôi đã khóc thật. 

Tôi đang ngồi ở sạp báo thì một chiếc xe hơi trờ tới, dừng lại. Từ trên xe vọng xuống một giọng trẻ con: 

-Cho tờ báo coi! 

Tôi nhìn lên xe đúng lúc từ trên đó, giọng kia sửng sốt: 

- Ý ! Tấn đó phải không mày? 

Tôi muốn độn thổ khi cái đầu của thằng Nhiên, bạn tôi, thò ra khỏi cửa xe. Nó nói: 

- Bây giờ mày ở đây sao? Người bán báo đâu rồi? Mày trông hộ người ta hở? 

Tôi run run kỳ lạ: 

- ...Không... tao không trông hộ ai cả... tao... tao bán... 

Thằng Nhiên quay vào nói với bố nó đang lái xe: 

- Thằng Tấn bán báo bố ạ. 

Bố nó hỏi thăm tôi: 

- Nhà cháu ở gần đây không? Bố mẹ cháu vẫn mạnh khỏe chứ? 

Tôi vẫn còn run giọng: 

- Dạ... nhà cháu ở trong xóm này... bố mẹ cháu mạnh khỏe cả... 

- Hôm nay bác bận, hôm nào bác vào chơi đấy! Thôi, cho bác tờ báo đi... 

Tôi lấy báo đưa cho thằng Nhiên. Nó trả tiền trăm. Tôi mở hộp tiền lấy tiền hoàn lại nhưng vừa đếm đủ số, xe của bố con thằng Nhiên đã bỏ chạy, tôi gọi với theo: 

- Bác ơi! Còn tiền thừa này... 

Thằng Nhiên thò đầu ra, vẫy tay lắc đầu. Tự nhiên tôi khóc, mắt tôi nhòa hẳn đi... 

Lại một buổi chiều, trời chuyển mưa đúng lúc tôi tan học. May sao, tôi về đến sạp báo, mưa vẫn chưa đổ hột. Mẹ tôi và cái Loan đang lo thu dọn báo vào hai cái hộp sữa bằng giấy bồi. Công việc vừa xong thì mưa bắt đầu rơi. Mẹ tôi một bên ôm một hộp báo, bên kia ôm cái quầy gỗ thuốc lá , tôi ôm hộp báo còn lại,nắm tay cái Loan cùng chạy nhanh vào ngõ, hy vọng đến nhà trước khi mưa bắt đầu lớn hột. Nhưng vừa được một quãng, tôi mới nhớ ra rằng cái cặp, tôi đã bỏ quên ngoài sạp báo. Tôi vừa chạy đuổi theo mẹ, vừa thở vừa nói: 

- Con để quên cái cặp ngoài ấy rồi mẹ ơi! 

Mẹ tôi dừng lại, càu nhàu: 

- Đoảng chưa! Có mỗi cái cặp mà cũng bỏ quên... 

Cái Loan: 

- Để con quay lại lấy cho. 

Lúc ấy, trời mưa đã khá lớn. Tôi định nói với mẹ tôi cùng vào một nhà nào đó trú mưa rồi tôi trở ra ngoài đường lấy cái cặp. Nhưng chưa kịp nói gì thì cái Loan đã chạy ngược ra phía đường cái. Mẹ tôi dặn với theo: 

- Này, mưa to thì vào nhà ông Phủ mà trọ nhé! 

Không nghe tiếng tiếng cái Loan vâng dạ, hoặc nó có nói nhưng tiếng nó bị tiếng mưa rơi át đi. 

Mẹ con tôi tạt vào nhà ông Vịnh thợ nề đứng núp mưa. Trong lúc mẹ tôi trò chuyện với vợ chồng ông Vịnh thì tôi ra trước cửa, nhìn về phía đường cái mà thầm lo cho em gái tôi. Mưa đã lớn, thế nào nó cũng bị kẹt ở ngoài ấy. Không biết vừa rồi nó có nghe mẹ tôi dặn mà vào nhà ông Phủ núp mưa không? 

Có tiếng mẹ tôi: 

- Bác xem, cái thằng hư đốn đến thế đấy. Có cái cặp cũng bỏ quên ngoài sạp báo để em nó phải chạy ra lấy về, bây giờ bị kẹt ở ngoài ấy... 

Tôi nói: 

- Để con chạy ra ngoài ấy xem sao nghe mẹ? 

- Thôi, chạy ra cho ướt hết hở? Rồi lại cảm mạo, nóng sốt. Tiền đâu tao lo cho mày? 

Tôi đành đứng im, cầu mong cho cơn mưa đừng lớn quá và chóng tạnh. 

Nhưng dù tôi có ước mong cách mấy, cơn mưa lớn vẫn lớn. Nướt trút xuống, gào thét như điên. Sấm chớp giăng bủa khắp nơi. Tôi lo lắng cho cái Loan quá. Giờ này nó ở đâu? 

Nhà cửa trong xóm bắt đầu bị ngập. Mực nước bắt đầu dâng lên từ từ. Tôi bỗng bồn chồn trong dạ không yên. 

Ngay lúc ấy, tôi thấy ông giáo sư Phủ khoác áo mưa đi ngoài ngõ. Rất ít khi ông giáo sư vào trong xóm, thế mà trời mưa gió thế này, ông vào đây, chắc phải có chuyện gì quan trọng. Tôi gọi: 

- Ông Phủ! Ông Phủ! Có việc gì thế ông? 

Nhận ra tôi, ông Phủ mừng rỡ tiến lại. Ông hỏi tôi: 

- Mẹ mày đâu rồi, gọi ra đây mau lên... 

Mẹ tôi chạy ra cùng lúc với vợ chồng ông Vịnh: 

- Cái gì thế bác Phủ? 

- Cái Loan nhà bác uống nước đến phình bụng ở ngoài kia kìa... 

Tôi giật nẩy mình, mẹ tôi biến sắc: 

- Cái ... Cái Loan ... nhà tôi hở bác? 

- Ừ, người ta đang cứu chữa cho nó ngoài ấy đấy... Bác ra nhanh đi... 

Bà Vịnh cho mẹ tôi mượn cái áo mưa, mẹ tôi chỉ kịp trùm lên đầu rồi tất tả đi theo ông Phủ. Ông Vịnh tìm áo mưa mặc vào đi theo. Tôi đội mưa mà chạy. Tim tôi đập thình thịch trong ngực, nỗi sợ xâm chiếm trọn hồn tôi. Vài người cùng xóm thấy chúng tôi, gọi hỏi chuyện, biết chuyện, họ cùng nhập bọn tiến ra ngoài đường cái. Mẹ tôi vừa đi vừa hỏi thăm ông Phủ. Ông kể tiếng nghe tiếng mất. Nhưng đủ cho tôi hiểu đầu đuôi câu chuyện. thì ra là cái Loan có nghe lời mẹ tôi dặn, thấy mưa to, nó ghé vào hiên nhà ông Phủ đứng trọ. Nhưng khi nước bắt đầu đổ vào xóm, mực nước bắt đầu dâng cao, không hiểu nghĩ sao- có lẽ sợ nước lên cao rồi không về được- nó rời chỗ trú, lấy cặp che đầu, lội về. Gia đình ông Phủ chỉ sơ ý một tí, em tôi đã đi được một quãng. Lúc mọi người phát giác ra sự vắng mặt của nó, nó đã bị nước dâng đến gần đầu gối. Rồi sơ xuất thế nào, nó trượt chân ngã. Nước vẫn dâng và chảy xiết làm con bé gượng đứng dậy mà không được. Người ta trông thấy, chạy vội ra cứu. Em tôi đã bị uống cả bụng nước và xỉu đi. 

Mẹ tôi vẹt đám đông trước hiên nhà ông Phủ, ôm chầm lấy cái Loan được người ta đặt nằm trên hai chiếc ghế kê sát nhau. Những tiếng”Con ơi! Con ơi!” lẫn tiếng khóc của mẹ tôi làm nước mắt tôi lăn dài. 

Em gái tôi nằm bất động, mặt mày xanh như tàu lá. Một anh lính- người đã cứu em gái tôi – đang xoa dầu cho nó, vừa thuật lại công việc cứu chữa cho mẹ tôi nghe. Anh nói: 

- Bác cứ yên tâm đi, tí nữa em nó sẽ tỉnh lại ngay mà. 

Mẹ tôi vừa sụt sùi vừa hỏi: 

- Thật vậy hả cậu? Con tôi không sao cả à? 

- Tôi bảo đảm với bác mà. 

- Sao nó chả biết gì hết thế này? 

- Em nó đang mệt. Tí nữa... mà kìa, nó đã tỉnh lại rồi đó... 

Cái Loan hé mắt nhìn mọi người. Gương mặt nó đã bớt xanh. Vừa tỉnh dậy, con bé đã hỏi ngay: 

- Cái cặp của anh Tấn đâu rồi? 

Tôi nghe mà thương em vô hạn. Cổ tôi bỗng thấy nghèn nghẹn, tôi muốn nói gì đó, tôi muốn làm một cử chỉ gì đó để em gái tôi hiểu rằng tôi thương nó vô cùng mà không biết phải nói gì, phải làm gì... 

Anh lính lấy cái cặp ướt sũng nước của tôi ra đưa cho cái Loan: 

- Đây, cặp của em đây. Phơi nắng độ một buổi là khô ngay ấy mà. 

Cái Loan nhìn anh lính ngạc nhiên (nó chưa biết đó là người đã cứu mình). Anh lính chìa cái cặp: 

- Này, cặp đây em... 

Cái Loan hỏi mẹ tôi: 

- Anh Tấn đâu rồi mẹ? 

Mẹ tôi quay về phía sau. Tôi bước đến bên em gái, ngồi xuống cạnh nó, lí nhí nói: 

- Anh đây... 

Cái Loan: 

- Cặp của anh ướt hết rồi... anh đừng mắng em nghen... 

Không hiểu vì sao, nước mắt tôi lăn dài. Qua màn lệ mờ, tôi thấy gương mặt em tôi phóng lớn , thật lớn, úp chụp lên muôn vạn hình ảnh phía trước. Tình máu mủ quả là một thứ tình thương cao cả vô biên. Tôi nắm tay em gái tôi, nấc lên rồi khóc hu hu một cách ngon lành, quên cả rằng chung quanh mình có bao nhiêu người dòm ngó. Bên tai tôi, giọng mẹ tôi kể lể: 

- Ấy, thằng Tấn bỏ quên cái cặp ngoài sạp báo, cái Loan chạy ra lấy hộ anh. Khổ thân nó, trời mưa to quá cho nên... 



Chương 4

Anh lính đã cứu cái Loan thoát chết trở thành một người bạn thân của gia đình tôi. Anh không phải là người trong xóm, cũng không quen biết ai trong xóm cả. Hôm xảy ra câu chuyện, anh đang trên đường đến Khu Trụ sở thăm một người quen, trời mưa, anh vào hiên nhà ông Phủ trú và cứu được em gái tôi. 

Anh Ngọc- tên anh lính là Ngọc- mới ghé lại chơi nhà tôi tối qua. Bố tôi nghỉ bán phở, sai cái Trâm đi mua lít rượu đế, gói tôm khô, vài con mực, ít gói lạc da cá cùng anh Ngọc nhâm nhi trò chuyện . Chuyện người lớn, nhất là chuyện bán phở của bố tôi và chuyện đánh nhau của anh Ngọc thật khó mà hấp dẫn được anh em tôi. Chúng tôi đã bắt đầu thấy sợ mùi phở, ngay cả mùi của câu chuyện về phở cũng thế, cũng chả đứa nào thích nghe chuyện đánh nhau, chết người cả. Thế mà lạ thật, cả ba đứa cùng sáp lại gần hai người lớn. 

Lạ! Hẳn có người nghĩ đến sự hấp dẫn của mấy con mực, của mấy gói lạc, mấy con tôm khô đối với anh em chúng tôi. Tôi xin thưa là những món ấy, anh em chúng tôi cũng không ham đâu. Vậy thì cái gì lạ? Cái lạ đó là cái tính nóng như lửa của anh Ngọc. Gương mặt anh xem lúc thường thì hiền ghê lắm, nhưng lúc anh giận thì phải biết, chẳng khác gì mặt ông ác ở đền chùa. Nóng tính, anh cũng “hạ hỏa” rất nhanh mới lạ nữa! Lúc bố tôi kể đến chuyện bên kia ấp có một tiệm mì mới mở: 

- Tiệm mì của người Tàu nào đó thì phải... mới mở nên đắt khách lắm. Xe phở của tôi ế hẳn đi... 

Anh Ngọc nổi giận liền. Anh nắm tay lại, đập thình thịch xuống mặt bàn: 

- Bác nói sao? Ba Tàu hở? Mì ! Phải rồi, mì thì chỉ có Ba Tàu. Ba Tàu! Chỗ nào cũng Ba Tàu... Tôi như bác ấy à, tôi đến gây sự ngay... 

Bố tôi: 

- Cậu làm như chuyện đùa. Mình biết buôn bán thì người ta cũng biết buôn bán chứ, ai cấm được ai... 

Thế là anh Ngọc hết giận. Mặt anh hơi nghệt ra một tí, rồi anh cười hì hì mà nói: 

- Ừ nhỉ! Ai cấm được ai. Với lại, Ba Tàu thì cũng phải kiếm sống chứ. Bậy nhỉ? Tại sao lại đi trách họ, muốn gây sự với họ? 

Rồi anh tự phạt mình bằng một ly đế đầy, ực trọn ngụm. 

Mỗi lần ghé lại nhà tôi, sau một chầu nhậu nhẹt hay một bữa cơm, một bát phở, anh Ngọc đều nói với bố mẹ tôi một câu tương tự như thế này: 

- Thật phiền hai bác quá, hai bác cho ăn ( hoặc cho uống) đến no bụng... 

Và bố mẹ tôi luôn trả lời bằng câu: 

- Có gì đâu, bữa mọn ấy mà... Làm sao sánh được cái công cậu đã cứu con cháu bé... 

Hôm qua, khi từ giã ra về, cũng những câu trao đổi tương tự thế. Sau đó, anh gọi cái Loan ra, bế nó lên , hôn khẽ lên trán nó và bảo: 

- Nhớ trời mưa thì đừng lội nước nữa nghe. 

Bố tôi cười: 

- Cậu chả phải dặn, bây giờ có cho kẹo nó cũng chả dám nữa... 

Anh Ngọc: 

- Trời mưa, chắc xóm vẫn còn bị ngập hoài? 

- Làm sao tránh được... 

- Tại sao dân trong xóm không họp nhau lại để tìm cách chống lụt bác nhỉ? Cứ để thế này thì không khéo nay mai lại có chuyện, mà biết đâu lại là tai nạn nguy hiểm gấp bội lần tai nạn của em Loan nữa... 

Bố tôi chép miệng: 

- Ai cũng bận làm ăn cả, thì giờ đâu mà nghĩ đến việc chống lụt... 

Chẳng ngờ lời anh Ngọc hôm trước lại là một lời tiên tri. Vừa rồi xóm tôi lại xảy ra một tai nạn mà nguyên nhân chính cũng là sự ngập lụt trong xóm lúc trời mưa. 

Vẫn là cơn mưa vào buổi chiều như trút nước. Lúc mực nước bắt đầu dâng cao, nước từ bên kia đường tràn sang xóm tôi, tôi khoác áo mưa đi học vừa về đến đầu ngõ. Tai nạn của em tôi là một cái gương rõ ràng nhất để tôi hiểu rằng: không nên lội nước về nhà khi trời mưa lớn, nhất là lúc mực nước đang dâng cao. Tôi vào trú mưa nơi nhà ông giáo sư Phủ. Ông Phủ thấy tôi hỏi đùa: 

- Sao? Liệu chừng tí nữa có lén lội về nhà không đấy? 

Tôi cười. Mấy người cùng xóm đứng trú cùng với tôi cũng cười. Xóm nhỏ, không một chuyện gì lại không lan truyền khắp nơi. Nhất nữa là một tai nạn, lại là tai nạn của em gái tôi, con ông bán phở, con bà bán báo mà trong xóm, không ai không biết. Sự có mặt của tôi khiến câu chuyện vãn của mấy người lớn nơi này chuyển đề tài. Họ bàn tán và kể nhau nghe những mẩu chuyện vui sau khi tát nước, nỗi mệt nhọc khi lau nhà, lau giường tủ bàn ghế... 

Mưa lúc một nặng hột hơn. Một đám trẻ tắm mưa không biết tìm đâu được chiếc ruột bánh xe hơi, bơm căng làm phao, một đứa khoác vào người dẫn đầu cả bọn chạy về phía con nước đang chảy xiết vào xóm. 

Thằng bé ném chiếc phao xuống nước rồi ngồi gọn lên trên. Dòng nước cuốn nó đi phăng phăng trước tiếng reo hò của đám bạn đứng trên mặt đường cái. Một quãng khá xa, nó mới chống chân cho chiếc phao dừng lại rồi ôm phao lội ngược ra đường cái, trao cho một đứa khác. Thằng này lại tiếp tục trời chơi đi phao đầy vui vẻ đó. 

Mấy người lớn đứng trú mưa nơi hiên nhà ông Phủ, lúc đầu còn la bọn trẻ, sợ nguy hiểm, sau không thấy gì đáng ngại, lại nữa, vui mắt, cùng hướng về phía chúng. 

Người lớn, trẻ con thỉnh thoảng lại reo lên trong cơn mưa ào ạt. 

Bỗng lũ trẻ chỉ trỏ với nhau rồi cùng đứng vẹt sang một phía. Tôi đưa mắt nhìn vào trong ngõ. Một cảnh kỳ khôi hiện ra trước mắt tôi. giữa dòng nước cuồn cuộn trôi về phía trong xóm, một chiếc xích lô che kín mít chỉ nhô lên nửa bánh xe được một đám đến năm sáu người hì hục đẩy ra ngoài đường cái. Theo sau là một đám đông khác. 

Chiếc xích lô tiến dần đến đầu ngõ, ngang chỗ tôi đứng trú mưa. Tôi nhận ra ông Tám xích lô, ông Phát thầu chợ, ông Hiền công chức, ông Long xe lam và bố tôi, người một tay chung sức đẩy chiếc xích lô, có lẽ chở ai ốm đau gì đó. 

Ông Phủ hỏi với ra: 

- Chuyện gì thế các bác? 

Ông Hiền hất đầu về phía ông Phát đáp: 

- Bác Phát gái chuyển bụng, chúng tôi chở lên nhà bảo sinh đấy mà. 

Thì ra người ngồi trong xích lô là bà Phát thầu chợ. Bà mang bụng lần thứ bảy rồi đấy. Hôm nọ, bà có đến nhà tôi chơi, nghe lỏm chuyện của bà với mẹ tôi, tôi nghe đâu cuối tháng này bà mới sinh, chẳng ngờ bây giờ lại là lúc bà chuyển bụng. Ác một cái, đúng lúc trời đang mưa tầm tã. 

Chiếc xích lô thoát lên khỏi mặt đường cái với những tiếng thở phào nhẹ nhõm của mọi người. Nước tràn ứ nơi mặt đường chỉ độ hai đốt tay, không ảnh hưởng gì đến việc di chuyển của chiếc xích lô cả. Ông Tâm leo lên xe, gọi ông Phát, lúc ấy đang cám ơn mấy người đã giúp sức mình: 

- Bác leo lên ngồi sau boọc-ba-ga đi, tôi còn đạp cho kịp... 

Ông Phát nói: 

- Thôi bác ạ, để tôi cuốc bộ vừa đẩy phụ với bác một tay được rồi. 

Nói đoạn, ông bá tay vào đẩy chiếc xích lô ngay. Chiếc xe với người đạp, người đẩy rẻ nước hướng về tỉnh lỵ. 

Những người còn lại đổ dồn vào hiên nhà ông Phủ. Nơi đây trở thành chỗ hàn huyên ấm cúng. Bố tôi kể: 

- Tôi đang ngồi thở dài với xe phở ế thì bác Phát hớt ha hớt hải đến nhờ giúp bác ấy một tay. Tội nghiệp bác ấy quá, lo quá đâm cuống ra. Tôi phải chạy ngay sang bác Long định nhờ bác lấy xe lam chở bác Phát gái nhưng khổ nỗi, nước ngập quá, xe lam chạy không được. Rốt cuộc, chúng tôi phải nhờ đến bác Tâm. Thêm bác Hiền nữa, chúng tôi năm người đẩy chiếc xe muốn hụt hơi luôn... 

Ông Long xòe hai bàn tay tỏ ý chán nản cùng cái lắc đầu: 

- Chiếc xe lam của tôi tự nhiên trở thành vô dụng, có muốn giúp bác Phát cũng không được. Chỗ bà con lối xóm với nhau cả mà... Rõ chán mớ đời cho nước với nôi ở cái xóm này... 

Ông Hiền: 

- Không biết rồi họ có đến nhà bảo sinh kịp không nữa? Nhỡ bác Phát gái bác ấy sinh ở dọc đường thì khổ, trời mưa to gió lớn thế này... 

Tự nhiên, mọi người cùng đưa mắt nhìn về phía cuối đường cái. Quang cảnh ngoài đường vẫn như bao lần mưa trước, xe cộ nằm la liệt, trẻ con chạy giỡn nghịch nước trong khi mưa cứ tiếp tục đổ. 

Tôi đến bên bố tôi: 

- Bố 

Nhận ra tôi, bố tôi a lên một tiếng mừng rỡ: 

- Mày trú ở đây hở? Bố tưởng mày còn ở trường chứ. 

- Con về đây lúc trời mưa to, nước đang dâng cao. Con sợ không dám về kẻo lại bị như cái Loan hôm nào... 

- Được, mầy xem thế mà được. 

Rồi bố chép miệng: 

- Mày có thấy bác Phát không? Rõ khổ! 

Ngay lúc ấy, một đứa trẻ từ phía cuối đường xồng xộc chạy lại, bi bô kể : 

- Bà Phát sinh rồi ông bà ơi! 

Bố tôi hỏi: 

- Cái gì? Bà Phát sinh rồi hở? Ở đâu? 

Ông Hiền: 

- Này, đừng có bày chuyện đấy nghe! 

- Cháu nói thật mà. Bà ấy sinh rồi. Người ta đem bà ấy vào nhà ông Mộc lo chạy chữa, lối xóm đông nghẹt cả nhà ông ấy... 

Ông Long: 

- Khổ thân! 

Ông Phủ: 

- Mình lại đằng bác Mộc xem sự tình ra sao đi các bác! 

Mọi người cùng tán đồng ý kiến của ông Phủ, ai có áo mưa thì trùm, ai không thì đội nhờ người khác hoặc để đầu trần mà đi, cùng hướng về nhà ông Mộc. Bố tôi hỏi tôi: 

- Mày đi không? 

Gì chứ đi thì tôi thích hẳn rồi. Tôi gật đầu ngay. 

Chúng tôi đến quá trễ. Đám đông trước nhà ông Mộc đã tản mác ra, bàn tán xôn xao. Chúng tôi hỏi thăm ông Mộc và được ông kể rằng bà Phát sinh ngay trên xe xích lô. Đem được vào nhà ông ấy thì bà đã ngất đi vì không đủ sức chịu đựng. Mọi người cố chữa nhưng không được đành phải đưa bà đi nhà thương tỉnh . Khổ nỗi không có chiếc xe lam nào chạy được, ông Tâm lại đành gò lưng mà đạp. 

Kể xong, ông Mộc kết luận: 

- Tội nghiệp quá, tôi chỉ sợ bác ấy không qua khỏi... Người bác ấy xanh như không còn giọt máu, lả hẳn đi... Mưa gió thế này mà... 

Bố tôi, ông Hiền , ông Long, ông Phủ và mấy người lớn khác chỉ còn biết nhìn nhau mà lắc đầu. 

Mưa vẫn rơi đều. Gió chợt mạnh hơn. tiếng sấm ầm ầm từ xa vọng lại. Ngoài đường cái, nước vẫn từ phía bên kia đổ ập sang xóm tôi. Những bác tài xe lam, những anh học sinh, những anh lính... đua nhau đạp máy xe, mặc cho người ướt như chuột lột. Tít xa đằng phía Khu Trụ Sở, nơi đầu dốc, xe cộ đậu nghẹt cứng. Quãng đường nơi cổng chợ có vài người lội qua. Nước đến đầu gối. 

Tôi nghe được tiếng thở dài của bố tôi. Đôi mắt của bố tôi lúc ấy mơ màng, mông lung vẻ buồn lạ. 

Sau cơn mưa dữ dội, xóm tôi chịu một cái tang. Bà Phát thầu chợ sinh giữa đường trong cơn mưa, được đem đến nhà thương tỉnh thì không còn sức nữa, tắt nghỉ. May mà con bà, đứa bé bị đẻ rơi, không việc gì. Nó vẫn lành mạnh như thường. Gọi là may để rồi tội nghiệp thằng bé, xem nó cũng khá kháu khỉnh mà phải mồ côi mẹ ngay từ lúc lọt lòng. 

Người chết đã yên phần, chỉ khổ những người còn lại. Sáu đứa con nheo nhóc mà đứa lớn nhất mới mười ba, đứa thứ sáu đang bập bẹ tập nói, lại thêm thằng con trai mới sinh, ông Phát chạy ngược chạy xuôi, bấn cả người. Đấy là còn có láng giềng người giúp việc này, kẻ hộ chuyện kia, chứ để mình ông, không biết ông phải làm sao nữa? 

Đám tang của bà Phát, tuy là đám tang trong xóm nghèo, nhưng rất trọng thể. Ấy cũng nhờ ông bà hiền lành, lại lo việc làm ăn, quen biết nhiều người. Hầu hết mọi người trong xóm đều đến chia buồn, phúng điếu. Trời mưa đã hại một mạng người, lúc người sống tiễn kẻ bạc phận đến chốn yên nghỉ cuối cùng, trời vẫn chưa tha, đang sáng mà lại mưa lâm râm. 

Dù thế, đám tang vẫn đông nghịt người. Phải nói là chưa bao giờ tôi được chứng kiến một đám tang đông như thế. Lúc bắt đầu đưa đám, tôi đang ngồi trông sạp báo cho mẹ tôi đi chợ. Sạp báo lúc ấy đã được tôi kéo vải ni-lông che kín cho khỏi ướt vì nước mưa tạt vào. Tôi chẳng có gì làm, ngồi không mà chứng kiến. 

Bà Phát đi lương, nhưng nhờ giao thiệp rộng, quen biết với cả cha xứ, đằng nhà thờ cho cả đoàn trống về đàn hát âm đến giúp không công. Đoàn trống đi trước tiên, nối đuôi một đứa trẻ cầm cờ. Kế là bàn vong do bốn người khiêng. Một đoàn thể Phật giáo mà bà Phát có hội, gồm toàn các bà có tuổi, những bốn năm chục bà, xếp hàng hai, tay cầm phướn, tay lăn tràng hạt vừa đi vừa tụng niệm. Sau nữa là các ông các bà trong hội đoàn của nhà thờ, các ông chức sắc trong ấp. Xe tang là loại xe rồng, sơn son thếp vàng chạy chầm chậm. Một người ngồi trên xe thả rơi từng tờ giấy vàng xuống đường cái - mẹ tôi nói đó là tiền gửi cho người chết xuống âm phủ có mà tiêu - Theo sau xe tang là ông Phát và các con. Thằng Tài, con trai cả, mặc áo tang, bê ảnh mẹ vừa đi vừa thút thít khóc. Sau nó là cái Hồng, thằng Danh, thằng Tứ, mắt cũng đỏ hoe. Hai đứa bé nhất là cái Thảo, thằng Hồ, còn chưa biết gì, líu ríu theo cha, theo anh chị , mắt mở thao láo ngơ ngác. Cuối cùng là láng giềng cùng xóm, có đến mấy mươi người nữa, đi lộn xộn chẳng hàng ngũ gì cả. 

Dàn hát âm của nhà thờ tiễn đưa linh hồn người chết bằng những tiếng sáo, tiếng nhị, tiếng phách thật buồn. 

Mưa cứ lất phất rơi. Gió tạt về một phía. Vài giọt mưa hắt trúng mặt tôi. Tôi thấy mắt mình ươn ướt. Không hiểu nước mưa hay nước mắt nữa? Mà kìa! Tôi mới vô duyên chứ! Gì mà khóc! Bà Phát thì liên hệ gì đến tôi... 

Tối đến, sau một ngày bận rộn giúp tay với ông Phát lo ma chay cho bà ấy xong, bố tôi như trút được gánh nặng, nằm lăn ra giường mà nghỉ ngơi. Mẹ tôi ngồi vá áo, anh em tôi ngồi nơi bàn, quang ngọn đèn dầu học bài, làm toán. 

Mẹ tôi bỗng ngừng tay, nói với bố tôi: 

- Rồi thằng bé mới sinh, ông Phát ông ấy định thế nào? 

Bố tôi đáp: 

- Thì phải thuê người nuôi vú chứ biết làm sao nữa... 

- Tội nghiệp thằng bé... 

- Tội nghiệp... đáng lẽ mẹ nó phải nói là tội nghiệp cả xóm này mới đúng... 

- ... 

- Mới có một người chết thôi đấy... Không biết rồi đến phiên ai nữa... 

- Cái ông này chỉ nói gở... 

- Gở hay không rồi biết... cứ cái điệu ngập lụt này mãi tôi đoán chẳng chóng thì chầy, dân xóm cũng bỏ đây mà đi hết... 

Cái Loan ngừng tập viết, hỏi bố tôi: 

- Nhà mình có dọn đi không hở bố? 

Bố tôi đáp bằng một giọng chán nản vô cùng: 

- Có lẽ rồi cũng đến nước phải dọn đi thôi con ạ... ở đây khổ sở đủ điều... 

Tôi nhìn bố ngạc nhiên quá sức. Đây là lần đầu tiên kể từ ngày dọn đến xóm này, tôi nghe bố tôi mở tiếng than thở. Có lẽ tai nạn xảy ra cho cái Loan, rồi cái chết của bà Phát đã khiến bố tôi không còn lạc quan như trước nữa. Vẫn với giọng chán nản, bố tôi tiếp : 

- Phải chi mình có tiền ngay bây giờ để dọn nhà thì thật hay. Kỳ nào mình cũng thừa vé số bán không hết mà chả trúng được gì, rõ chán... 

Cái Trâm mơ ước: 

- Nếu nhà mình trúng số, bố dọn nhà lên tỉnh nghe bố. 

- Ừ... (Giọng bố tôi trở nên mơ màng)... nếu trúng số kha khá, nhất định bố sẽ bán căn nhà này để lên tỉnh... Bố sẽ mua lại căn nhà nào đó, be bé thôi, nhưng chắc chắn là có điện, có nước, đầy đủ tiện nghi cho chúng mày khỏi cực khổ như bây giờ... Biết bao giờ trời mới thương mà đoái hoài đến mình... 

Xóm Nhỏ - Chương 1 - 2

Chương 1

Ngày gia đình tôi phải rời bỏ căn nhà cũ là một ngày thật buồn. Không buồn sao được khi nơi đó còn biết bao kỷ niệm buồn vui, nơi đó anh em tôi đã sinh ra đời, đã lớn khôn, đã đùa nghịch, đã phá phách, bố mẹ tôi đã sửa sang, đã bồi đắp. Cho đến bây giờ, tôi không còn nhớ rõ được rằng đầu tiên, căn nhà của gia đình tôi ra sao? Nhưng tôi biết chắc là nó được sửa sang rất nhiều, nghĩa là bố mẹ tôi đã phải tốn vào đấy bao mồ hôi, công khó. 

Thế mà bố mẹ tôi phải treo bảng bán. Buổi tối hôm ấy, bố tôi lấy đâu ra một miếng các-tông khá vuông vức đặt lên bàn học của anh em tôi rồi sai cái Trâm đi mua đồng bạc phấn. Tôi đang ngồi tập viết cho cái Loan, thấy thế mới hỏi: 

- Mua phấn làm gì vậy bố? 

Bố tôi nhếch mép cười- nụ cười thật lạ lùng, trông như mếu - Bố không trả lời câu hỏi của tôi mà hỏi ngược lại: 

- Mầy có viết hộ bố mấy chữ lên đây (Bố vừa chỉ lên tấm các-tông) có được không? 

- Có cần viết đẹp không hở Bố? 

- Đẹp hở... ờ ... đẹp càng hay... 

- Nhưng viết gì cơ? 

Lại một lần nữa bố tôi nhếch mép cười như mếu. Sau đó , bố thở dài và nói: 

- Bố nhờ mày viết hộ bố mấy chữ như thế này... Hai chữ thôi... Mà không ... Năm chữ tất cả... Hàng trên mày viết : Nhà bán, hàng dưới viết: Hỏi tại đây... 

Tôi mở tròn đôi mắt, cái miệng hơi chu ra. Bán nhà? Bố tôi bán nhà? Gia đình tôi sa sút đến độ phải bán nhà sao? Sao bấy lâu nay, tôi chả nghe bố mẹ tôi đá động gì đến chuyện làm ăn thua lỗ? Căn nhà này rồi sẽ về tay người khác? Thật thế sao? 

Như đọc được ý nghĩ của tôi, bố tôi trầm giọng kể: 

- Mấy tháng nay bố mẹ làm ăn thua lỗ quá, thầu chuyến nào là y như rằng lỗ vốn chuyến ấy. Bố mẹ không dám cho các con biết vì bố mẹ không muốn các con bận tâm về việc tiền bạc trong gia đình, bố mẹ định thầu thêm vài chuyến nữa may ra có vớt vát được gì không? Chả ngờ... Đến nay thì tình thế bắt buộc, không cho các con biết không được. Bố định bán nhà rồi xoay sang nghề khác... 

Tôi hỏi chận: 

- Bố đổi nghề thì cứ đổi, sao lại phải bán nhà? 

- Cái nghề mới của bố, bố thấy không cần đến ngôi nhà này. Vả lại, bố cần một số tiền để trang trải nợ nần... 

Cái Trâm mua phấn về. Bố tôi trao cho tôi một viên, khẽ nói: 

- Viết cho Bố đi, hàng trên hai chữ “Nhà bán”, hàng dưới chữ “hỏi tại đây”, nhớ viết cho đèm đẹp... 

Tôi ngước nhìn Bố. Tôi thấy bố tôi cười mà đôi mắt long lanh ngấn lệ. Bố tôi vẫn hay bảo: đàn ông con trai mà khóc thì yếu lắm . Thế mà... 

Tôi cúi xuống và bắt đầu viết lên tấm các-tông hàng chữ như bố tôi vừa dặn. Cái Trâm đứng tựa bàn chăm chú theo dõi. Cái Loan cười toe toét khen: 

- Anh Tấn viết đẹp ghê! 

Tôi viết xong, ngước nhìn bố tôi lần nữa. Lần này, tôi không còn thấy ông cười nữa. 

Tấm bảng rao bán nhà được treo trước cửa nhà tôi độ bốn năm hôm thì có người đến hỏi. Lúc khách đến, bố tôi không có nhà, mẹ tôi thay mặt dẫn họ đi xem xét khắp nơi trong nhà. Khách có vẻ bằng lòng lắm, ông ta hẹn gặp bố tôi vào sáng hôm sau. Và rồi giá cả xong xuôi, dễ dàng một cách không ngờ. 

Bố tôi bảo cái Trâm ra hạ tấm bảng bán nhà xuống. Nhà tôi đã bán mất rồi. 

Phải mất ba chuyến xe lam đầy, đồ đạc của gia đình tôi mới di chuyển hết. Tôi chưa từng sống những phút giây biệt ly giữa người và người. Nhưng tôi chắc rằng buổi chiều hôm ấy, buổi chiều ly biệt giữa tôi và căn nhà cũ, dù là giữa người và một vật vô tri, cũng chẳng kém thâm tình thân thiết. 

Từng món đồ được khiêng ra xe, từng phút giây căn nhà trở nên trống trãi hơn. Bao kỷ niệm buồn vui trong căn nhà này từ nay sẽ rời xa tôi mãi mãi rồi. Hết còn ngày một buổi, tôi, cái Trâm, cái Loan, đứa nọ đùn cho đứa kia múc nước lau nhà, rồi cãi nhau chí chóe, rồi chê nhau lau nhà không sạch, chê nhau lau nhà lâu, chê nhau làm không kỹ... hết rồi những buổi tối bố con tôi nằm lăn trên nền gạch vừa chuyện trò, vừa đùa nghịch. Hết rồi... 

Lúc món đồ cuối cùng được đem ra xe, người chủ mới cũng vừa đến. Mẹ tôi, cái Trâm, cái Loan đã về nhà mới trong hai chuyến xe trước. Chuyến thứ ba này chỉ còn bố con tôi. Bố tôi bắt tay người chủ mới từ giã. Tôi lí nhí chào ông ta. Ông ta cười thật tươi, lấy tay xoa đầu tôi và nói: 

- Cháu đi mạnh giỏi nhé. Hôm nào rảnh về đây chơi. 

Bố tôi ngồi ghé trên hộp đồ nghề của chiếc xe lam gắn cạnh tài xế. Tôi ngồi đằng sau xem chừng đồ. Chiếc xe lam như sắp hỏng máy, tiếng máy nổ bùng bục không đều, thỉnh thoảng bị tắc nghẹn như ông cụ khục khặc ho. Tôi ước chi nó hỏng máy để tôi được thêm ít phút nữa mà nhìn ngắm căn nhà lần cuối cho thỏa. Thế nhưng cái xe kỳ khôi vừa ho lục bục, lại vừa lăn bánh đều! 

Người chủ mới của căn nhà chúng tôi đứng trước cửa, đưa tay vẫy. Bố tôi ngoái lại vẫy trả. Tôi cũng bắt chước bố tôi. Nhưng khơng phải vẫy chào người đã tước đoạt của tôi bao kỷ niệm nơi căn nhà cũ, mà vẫy chào căn nhà thân yêu, vẫy chào bốn bức tường gạch quét vôi vàng, cánh cửa ra vào màu xanh lá cây, mái ngói chỗ mới thay đỏ au, chỗ cũ xì mốc thếch. 

Vĩnh biệt nhau rồi, căn nhà cũ thân yêu của tôi ơi! 

Vào lúc chúng tôi dọn nhà thì lũ bạn cùng xóm của tôi, của cái Trâm bận đi học, không có đứa nào đến tiễn anh em tôi cả. Nhưng nơi căn nhà mới, tôi thấy thật nhiều trẻ đứng sẵn như đón chào. Đâu mười mấy đứa. Tôi nghĩ, trước sau gì thì tôi với chúng cũng quen nhau, thành bạn bè nhau, nên vừa nhảy ra khỏi xe, tôi đã quay về phía chúng, cười duyên một nụ. Thế mà có hiệu quả ngay. Một đứa cười đáp lại, nó hỏi tôi: 

- Hết chưa mày? 

Tôi đáp : 

- Hết rồi. 

Nó: 

- Nhà mày nhiều đồ ghê! 

Nhà tôi quả nhiều đồ đạc thật. Và đó chính là đầu mối gây ra sự rắc rối tối hôm ấy. Ba chuyến xe lam đồ đạc thu gọn vào một căn nhà ba thước rưỡi bề ngang, sáu thước hơn bề dài hỏi làm sao không chật chội. Bố tôi kê đi, mẹ tôi sửa lại, tôi bàn vào, cái Trâm tản ra... Đống đồ đạc suốt tối hôm ấy được dịp chạy lăng quăng khắp nơi trong nhà. Cuối cùng, chỉ có vài món được yên thân yên chỗ. Đó là cái giường lớn của mẹ tôi, cái Trâm, cái Loan; cái giường con của bố con tôi; cái tủ đứng và bộ bàn ghế! Kỳ dư, bao nhiêu đồ đạc khác, nằm la liệt chỗ này một món, chỗ kia một món, hôm sau tính. 

Thời gian đi thật nhanh khi người ta làm việc. Thu dọn đồ đạc chỉ mới được chừng đó mà đồng hồ đã chỉ tám giờ hơn. Bấy giờ mẹ tôi và cái Trâm mới đi sửa soạn thổi cơm. Cái Trâm, em gái tôi thật ngoan và đảm đang. Mới mười tuổi đầu mà nó đã biết thổi nồi cơm, làm vài món ăn thông thường. Khi còn ở nhà cũ trên tỉnh, gia đình bề thế, mẹ tôi dạy nó làm bếp chỉ để có dịp khoe con gái mình với khách khứa; giờ đây, buổi tối đầu tiên nơi căn nhà mới chật hẹp, và rồi còn nhiều ngày nối tiếp nữa, em gái tôi có phải làm bếp thì thực sự là làm bữa cho gia đình no lòng, chứ không còn tính cách là để làm dáng như trước nữa. Với cái Trâm, tôi chỉ thương nó nhất ở điểm này: nó rất chăm chỉ nhưng lại kém thông minh, kém vô cùng. Tôi nhớ có một lần tôi cho nó làm toán. Bài toán chẳng có gì là khó hiểu, tôi chỉ giảng sơ qua và tưởng thế là đủ. Ngờ đâu em gái tôi lắc đầu mà rằng: 

- Em chả hiểu gì cả! 

Tôi giận quá , suýt chút nữa buột miệng mắng em nếu không kịp nghĩ rằng có lẽ tại tôi giảng chưa kỹ nên nó chưa hiểu. Tôi giảng lại từ đầu và giảng thật chậm. Để chắc ý, sau mỗi câu, tôi đều hỏi nó: 

- Có hiểu không? 

Em gái tôi gật đầu nói “hiểu”, để rồi sau đó, khi giảng hết bài toán, nó lại lắc đầu: 

- Em chả nhớ gì hết! 

Tôi hết dằn được, giơ tay cốc vào đầu nó một cái, miệng mắng: 

- Sao mày ngu thế? 

Em gái tôi không khóc ngay khi ấy. Nó lấy tay che mặt sợ tôi đánh nữa, mắt lấm la lấm lét. Tôi thấy hối hận, định mở lời xin lỗi. Đúng lúc ấy, bố tôi đi làm về. Cái Trâm không mách bố tôi, và lúc này nó vẫn chưa khóc. Nhưng rồi sau đó, tôi bắt gặp nó ôm mặt nức nở trước cuốn tập toán trong một góc nhà. Tôi biết rõ lắm, em gái tôi tủi thân. 

Chín giờ tối hôm dọn nhà, mẹ tôi và cái Trâm dọn cơm ra. Bữa cơm thật đạm bạc nhưng vì suốt buổi chiều quần quật với công việc, bụng ai nấy đã đói meo, cả nhà cùng ăn thật ngon lành. Nồi cơm hôm ấy hết sạch. Cái nồi sạch nhẵn, một hình ảnh kỷ niệm mà không bao giờ tôi quên được trong bữa cơm đầu tiên của những ngày cơ cực. 

Ngày hôm sau, rồi nhiều ngày sau nữa, gia đình tôi mới thu xếp chỗ để các vật dụng trong nhà được gọn gàng. Hẳn là chật như nêm. Và có nhiều thay đổi nữa. Ở nhà cũ, chúng tôi có một bộ sa-lông, một cái bàn ăn học cho anh em tôi, một cái bàn ăn dưới bếp. Lên đây, bộ sa-lông về tay người khác, đổi cho bố mẹ tôi một món tiền. Chiếc bàn học của anh em tôi bây giờ kiêm luôn ba việc: để tiếp khách, để ngồi học, và ... để ăn cơm. Còn chiếc bàn ăn cũ? Nó phải nằm sát góc nhà giơ mặt ra chịu đựng nào hai cái bếp dầu hôi, nào chai, lọ, đèn, đóm cùng những vật dụng linh tinh khác của một cái bếp. 

Đấy! cứ nhìn đấy thì đủ thấy cảnh sa sút của gia đình tôi. Sa sút một cách thình lình không ngờ. Mười mấy năm trời nay, tuy không khá giả lắm, nhưng chúng tôi sống sung túc nơi tỉnh thành, tiện nghi đầy đủ. Nơi căn nhà mới, một xa cách rõ rệt với căn nhà cũ, bố mẹ tôi hẳn buồn lắm. Cứ nhìn vào đôi mắt sâu thẳm của mẹ thì rõ. Đôi khi tôi đã thấy mẹ tôi khóc. Tôi hiểu sự xót thương của những giọt nước mắt đó. Không phải để tiếc nuối những ngày sung sướng đã qua, mà vì lo cho anh em tôi, ba đứa con đã quen sống trong nếp sống đầy đủ, nay phải chịu đựng cảnh bần hàn. Nỗi lo lắng của mẹ tôi không phải là không có lý đâu, mà thật có lý. Vì cho đến tôi, tuy đã hiểu được phần nào hoàn cảnh gia đình, đã tự nhủ là sẽ cố chịu đựng những ngày thiếu thốn, mà còn thấy bực bội nữa là hai em tôi, chúng đã biết suy nghĩ gì? 

Bố tôi thật đúng là một người bình tĩnh rất mực. Và còn khéo thích nghi với hoàn cảnh mới nữa. Nét mặt của ông bình lặng vô cùng. Một đêm, vừa thiu thiu ngủ, tôi giật mình vì tiếng trò chuyện của bố mẹ. Mẹ tôi than van và tỏ ý lo ngại cho anh em tôi. Bố tôi để mẹ tôi nói hết rồi mới ôn tồn rằng: 

- Mẹ nó cứ để mặc tôi. Rồi tôi sẽ tìm cách nói cho con hiểu mà vui vẻ chấp nhận cuộc sống này. Tôi vẫn hy vọng trời thương , giúp mình đủ tiền lên tỉnh, tìm được căn nhà kha khá và làm cái nghề gì có danh giá một tí... Hy vọng rằng mình sẽ ở đây không lâu... 

Vâng, con cũng hy vọng như thế đó bố. Hy vọng rằng gia đình mình sẽ trở lên tỉnh một ngày gần đây... 



Chương 2

Dù đã nhủ mình phải cố hòa đồng vào nếp sống mới của gia đình, tôi cũng thấy rằng tôi khó mà thích hợp, mà chịu đựng được. 

Trước tiên là những tiện nghi vật chất. Căn nhà mới của gia đình tôi, như tôi đã kể, chỉ là một căn nhà với ba thước rưỡi bề ngang, hơn sáu thước bề dài, nằm trong môt xóm nhỏ khoảng trăm nóc gia. Chừng đó gia đình, chừng đó căn nhà lúp xúp, nghèo nàn, chen lấn nhau trong một khoảng đất biệt lập. 

Thật ra , gọi là biệt lập thì không đúng lắm. Vì tuy xóm tôi trơ vơ thật đấy- phía trái và sau lưng là ruộng, phía mặt là một khu rừng, nhưng đằng trước , cách một con đường, là một ấp nhỏ, tuy chẳng mấy gì sang trọng nhưng cũng danh giá hơn xóm tôi ở nhiều. Ruộng lúa và rừng thưa đã ôm trọn xóm tôi như một ông chủ đứng giữa bồ lúa, trong khi thật sự không một gia đình vào trong xóm đứng ra canh tác một thước ruộng. 

Theo lời bố tôi kể, cái xóm nhỏ này được thành lập trong một trường hợp thật đặc biệt. Hồi đó, dân trong xóm đều là những người chạy giặc.Chính phủ định giúp đỡ bằng cách định cư họ trong vùng đất cuối khu rừng- tức là cách địa điểm hiện tại chừng hai cây số. Hẳn nhiên chính phủ cho xe ủi đất, trợ cấp vật dụng để dân xóm dựng nhà cửa. Nhưng sống như vậy có khác gì tự bó chân một chỗ. Từ nơi định cư đến căn nhà đầu tiên của khu ấp phía bên kia đường cũng cả cây số, nói gì đến chợ búa nằm giữa ấp. Làm sao dân trong xóm buôn bán, sinh hoạt được? Bàn ra, tán vào, cuối cùng mọi người đồng ý với nhau cùng chọn một chỗ đất khác tiện lợi cho sinh hoạt hàng ngày hơn, rồi tự ý chia lô, dựng nhà. 

Khu đất được chọn là nơi tọa lạc của xóm tôi hiện nay. Đây là mảnh đất ruộng có chủ nằm sát đầu khu rừng, đối diện với trung tâm ấp bên kia đường. Chủ ruộng phản đối, chính phủ không bằng lòng. Nhưng cả trăm gia đình đoàn kết, nắm tay nhau nhất định ở lì, cuối cùng, chính phủ phải nhượng bộ, đứng ra mua đất và hợp thức hóa khu xóm. 

Thế là nhà cửa được sửa sang lại cho ra hồn một tí. Khổ một nỗi, lúc chiếm đất, chưa ai tin là mình sẽ được ở nơi này vĩnh viễn, nên chỉ chiếm vừa đủ khoảng đất cho gia đình ở tạm. Được hợp thức hóa rồi, nhà nào nhà nấy mới kêu than là chật chội. Trừ vài gia đình ở phía mặt đường chiếm được nhiều đất, còn phần đông chỉ vừa đủ dựng một căn nhà khiêm nhượng! 

Căn nhà mới của gia đình tôi là một trong những căn nhà khiêm nhượng ấy. 

Nó nằm cách trục giao thông chính của xóm đến ba mươi mấy thước. Và phải quẹo hai con hẻm mới đến. Nói đến những con hẻm trong xóm thì..., chỉ nghĩ đến không thôi, tôi cũng phải lắc đầu le lưỡi. Không con hẻm nào ra hồn cả. Vừa vặn khít khao một chiếc xe lam đi vào. Rồi rác rưởi, rồi ruồi nhặng, rồi ổ gà... Thế đã hết đâu; nhà cửa chật chội, người này nhích ra chút đất, người kia xé ra một hàng hiên... con hẻm hết còn ngay thẳng mà thỉnh thoảng lại có chỗ nhô ra hàng thước( Có lẽ những nhà đó nghĩ rằng đã lấn đất thì cũng phải lấn cả thước mới bõ). Tính đến lúc gia đình tôi đến xóm này, vẫn theo bố tôi, có hai con hẻm bị bít lại hoàn toàn, nhà nào may mắn ở ngoài thì còn sửa cửa về phía con hẻm khác, như bằng ở giữa, xoay đủ bốn phía, phía nào cũng là nhà hàng xóm, chỉ còn cách đi nhờ hoặc chung nhau chừa một lối mòn nhỏ ra hẻm! Thật rõ là có đường đi đàng hoàng lại hóa ra không! Ấy thế mà đó vẫn chưa là cái gương để những người khác trong xóm tránh, các ngõ hẻm vẫn bị lấn thêm hoài... 

Đường sá thì thế đó, những tiện nghi khác cũng chẳng hơn gì. Cả xóm mới có một cái giếng, người này chờ, người kia đợi... Mẹ tôi từ ngày về đây, chỉ một bận ra giếng đó lấy nước, mất cả buổi mới được hai thùng, khiếp vía, đành ruổi gánh qua xin nước giếng hoặc mua nước máy ở ấp bên kia. 

Việc đèn đóm nữa, trong lúc ở bên kia đường mỗi đêm đèn thắp sáng choang, ở xóm tôi chì lèo tèo vài nhà câu điện nhờ là có chút ánh sáng coi được. Còn lại bao nhiêu là đèn dầu vàng vọt, tối mù. Mới dọn đến, bố tôi đã nghĩ ngay đến việc xin câu điện nhờ và tự lấy làm lạ không hiểu sao cả xóm lại chỉ có vài nhà câu điện? Sự thật đã trả lời thắc mắc của bố tôi. Điều kiện để được câu điện nhờ của những nhà có công-tơ bên kia đường như sau: hai mươi ngàn đồng thế chân, người câu điện phải chịu mọi phí tổn về cột điện, dây điện, đồng hồ, luôn cả tiền sửa chữa nữa. Đấy là chưa kể mỗi khi có nhân viên nhà đèn đi kiểm soát, phải góp tiền nhau đút lót hầu họ không làm khó dễ người có công-tơ cho câu nhờ. Bố tôi nghe qua đã phải lắc đầu quầy quậy mà rằng: 

- Hèn gì chỉ có vài nhà dám câu điện. 

Từ những tiện nghi đầy đủ thuở còn ở nhà cũ đến những thiếu thốn nơi đây, gia đình tôi gặp thật nhiều phiền phức. Cái Trâm, cái Loan thì hẳn rồi, luôn miệng than van. Tôi cũng chẳng hơn gì, càng cố bảo mình gắng chịu đựng, càng bực mình. Mẹ tôi cũng thế, tuy rằng mẹ chỉ cằn nhằn vào lúc không có mặt chúng tôi. Chỉ có bố tôi là lúc nào cũng cười được. Tự nhiên, từ sau ngày bán nhà, bố tôi hay cười. Mà không phải nụ cười lạ lùng méo xệch đâu nhé, nụ cười thật đúng nghĩa nụ cười! Phải chăng bố tôi đã tìm được một triết lý (!) sống hay ho lắm? 

Tuy nhiên, nếu chỉ có những thiếu thốn về vật chất thì có lẽ tôi cũng quen dần được. Đằng này, còn một chuyện đã khiến tôi bận tâm không ngơi. Tự nhiên, viết đến đây, tôi sực nhớ đến lời bố tôi ngày nào 

- Cái nghề mới của Bố , bố thấy không cần đến căn nhà như thế này 

Và tôi muốn khóc. 

Có ai ngờ được không, khi từ một ông thầu khoán, bố tôi trở thành ông bán phở! 

Lúc bố tôi đẩy chiếc xe phở (chiếc xe không) về nhà, tôi cười rộ: 

- Bố định mở tiệm bán sinh tố phải không bố? Hoan hô bố! 

Cái Trâm ao ước: 

- Mỗi ngày bố quay cho chúng con mỗi đứa một ly sinh tố nghe bố. 

Cái Loan: 

- Con thích uống mãng cầu, mà phải thêm nhiều sữa con mới chịu đấy. 

Không phải là chiếc xe sinh tố như anh em tôi tưởng. Mà vài hôm sau đó, với sự sửa sanh của bố tôi, chiếc xe phở thành hình. Một bên là thùng nước dùng luôn sôi sùng sục nhờ hơi nóng của lò than hừng hực đỏ phía dưới. Bên kia là tủ chén bát, đũa tre cắm trong ống bơ ghi-gô. Và thịt, bánh phở, nước mắm, xì dầu, tương, ớt, dấm, chanh, rau... 

Bố tôi đi bán phở! Tôi muốn khóc. Tôi không muốn tin đó là sự thật chút nào. Cái Loan hỏi bố: 

- Bố biết làm phở từ bao giờ vậy bố? 

Bố tôi đáp: 

- Bố biết lâu lắm rồi, từ ngày con còn bé tí cơ. 

Cái Loan tin lời bố tôi, nhưng tôi , tôi biết, để học được cái nghề này, bố tôi đã mất ba bốn hôm đến nhà một người bạn có cửa tiệm trên tỉnh để tập tành. 

Rồi tiếng rao của bố tôi hàng sáng, hàng đêm vang vọng trong xóm, ngoài đường cái, tít tận đằng chợ, đằng trụ sở ấp. Những tiếng rao “phở” lơ lớ thành “phớ” như những mũi kim xuyên thấu hồn tôi, một đứa trẻ mười hai bất lực chứng kiến cảnh sa sút của gia đình và nỗi khổ của người cha. 

Khi mới dọn đến xóm này, bố tôi đã bỏ mấy tối để đi khắp xóm làm quen. rồi khi sửa soạn xong chiếc xe phở, bố lại bỏ một đêm đi mời khách. Bố tin tưởng ngay ngày mở hàng sẽ được phát tài to. Sáng sớm hôm ấy, ngày khai trương của xe phở bố tôi, bố tôi đãi chúng tôi, bốn người còn lại trong gia đình, mỗi người một bát phở tái nạm. Mẹ tôi bảo: 

- Ông chỉ khéo vẽ trò. 

Bố tôi cười không đáp, ngồi nhấp trà nhìn bốn mẹ con tôi ăn phở, cái Trâm húp nước dùng xùm xụp, khen béo quá. Cái Loan chê ít thịt. Mẹ tôi khen vừa vặn lắm. 

Cái Trâm, cái Loan, hai em tôi còn chưa biết gì, chúng ăn phở của bố tôi rất tự nhiên. Nhưng mẹ tôi, tôi hiểu, mẹ tôi ăn phở mà trong dạ đầy nỗi xót xa. Không xót xa sao được khi ngày nào còn ở trên tỉnh, mỗi lần đi ăn phở ở nhà hàng, mẹ tôi vẫn bảo chúng tôi:”Muốn ăm thêm gì cứ gọi nhà hàng, người ta đem ra cho”. Và anh em chúng tôi rất thích đước sai bảo người khác, hạch sách nhà hàng đủ điều. Lấy thêm miếng chanh, cho thêm tí ớt, đổi chai nước mắm đi, lấy rau coi nào... Những người bán hàng chừng như chẳng chút khó chịu vì những lời đòi hỏi đó. Nhưng liệu bố tôi có chịu được như thế không? 

Nghĩ đến bố, tự dưng tôi mắc nghẹn, nuốt không trôi miếng phở. 

Hôm ấy, đúng như đã dự đoán, xe phở của bố tôi được chiếu cố đặc biệt. Bố tôi không nói, nhưng mẹ tôi hỏi bố có cần đứa nào đi theo giúp một tay không? Bố tôi đáp không, để con nó ở nhà chơi, một mình tôi bán được rồi. Mẹ tôi không chịu, hỏi anh em tôi có đứa nào muốn theo bố không? Tôi ngần ngừ, cái Trâm ngần ngừ, có lẽ nó cũng như tôi, hơi thấy xấu hổ. Nhưng cái Loan thì không, nó nói: 

- Con đi theo bố, bố nhé! 

Bố tôi: 

- Con còn nhỏ quá, theo chả ích gì. Thôi, cứ ở nhà... 

- Con trông xe lúc bố bê phở cho người ta, chứ không ăn cắp nó lấy trộm phở thì sao? 

Tội nghiệp em gái tôi, nó còn thơ ngây quá. 

Xe phở với bố tôi và cái Loan đi vòng trong xóm, đã bán được đến phần ba. Ra ngoài đường cái, chỉ được quãng non cây số, nghĩa là vừa tới trụ sở ấp, xe phở cạn hàng. 

Chuyến tối, bố tôi lấy thêm bánh và cũng thu hoạch rất khá. Bố tôi nói: 

- Cả khu không có một tiệm phở thành ra lạ miệng, họ mới ăn nhiều như thế. Đấy rồi xem, chỉ vài hôm là hàng bán kém ngay, không chừng lại ế rạc ế dài ra nữa. 

Tôi thì tôi nghĩ rằng xe phở của bố tôi sẽ bán chạy mãi mãi. Lạ chưa? Tại sao tôi lại mong bố tôi bán chạy trong khi tôi còn thấy xấu hổ vì cái nghề mới của bố? 

Nụ cười vẫn còn trên môi bố tôi. Chừng như bố muốn dùng nụ cười của mình để khuyến khích, để đưa đẩy nên những nụ cười an phận của bốn mẹ con tôi... 

Nhưng tôi biết chắc, ngày nào hình ảnh cuộc sống dư giả ngày trước còn lẩn khuất trong trí mẹ con tôi, ngày ấy chúng tôi còn chưa cười trọn nụ. 


*
*     *

Rồi một buổi sáng nọ, cái Trâm đã thấy rõ nỗi xót xa như mẹ nó, anh nó đã thấy. 

Sáng hôm ấy, một lũ bạn nó từ trên tỉnh kéo xuống chơi. Tìm đến xóm tôi là một diều dễ, nhưng tìm được nhà tôi thì khó lắm. Thật ra, muốn tìm nhà tôi, cứ việc hỏi thăm người cùng xóm câu này: 

- Nhà ông bán phở ở đâu? 

Tất họ chỉ đến nơi. Nhất định đúng, vì trong xóm, bố tôi là ông bán phở duy nhất. Nhưng lũ bạn của em tôi đâu đã biết rằng hiện giờ bố tôi bán phở, chúng nó hỏi: 

- Nhà ông thầu khoán mới dọn đến ở đâu? 

- Cái nhà có ba anh em, một trai, hai gái ở đâu? 

Cho nên loanh quanh một lúc lâu, cả bọn mới tìm được. 

Vào giờ ấy, bố tôi đi bán phở chưa về, mẹ tôi lại đi chợ, nhà chỉ còn ba anh em tôi. Cái Trâm gặp bạn bè, chạy ra mừng rỡ, hỏi han tíu tít từng đứa một. Lũ bạn nó chia nhau ra, đứa ngồi ghế, đứa tựa bàn, đứa ngồi giường, đứa thơ thẩn. Chúng nó thầm thì với nhau: 

- Sao bây giờ nhà cái Trâm nghèo quá nhỉ? 

- Cái nhà gì bé tí ti, thấp chùn chụt... 

Tôi nghe hết, có lẽ cái Trâm cũng nghe, nhưng chúng tôi giả vờ không biết. Cái Loan líu lo như chim: 

- Anh Hiến còn gấp tàu bay giấy không? Chị Hường đi xe đạp được chưa? Cu Ngan-em hết ốm rồi chứ? 

Cái Trâm cũng hỏi thăm: 

- Cô giáo có nhắc tớ không? 

Cái Hường đáp: 

- Sao không! Cô bảo đằng ấy dọn nhà, lớp mất một người học trò chăm chỉ... 

Em tôi pha trò: 

- ... Nhưng bớt được một đứa ngu... phải không? 

Tôi hỏi thăm một đứa về căn nhà cũ: 

- Này Tố, mày thấy nhà cũ của tao có còn như xưa không? 

Tố: 

- Ông chủ nhà sửa lại đằng trước hiên rồi. Nhà ông ấy bán tạp hóa đấy. Lũ con có đến chín đứa nghịch như quỷ... 

Tôi thấy bồi hồi lạ. Thương quá đi thôi, căn nhà cũ của tôi ơi! Lũ con chín đứa của người chủ mới phá phách lắm, hẳn căn nhà phải “buồn” nhiều? Tội nghiệp... 

Bỗng có tiếng ra “phở” từ xa vọng lại, cái Hường chép miệng: 

- Eo ơi! Ở cái xóm bé tí tèo này mà cũng có hàng phở nữa à? 

Cái Trâm hé miệng định cho bạn biết ông bán phở kia chính là bố tôi, nhưng nó chưa kịp nói, cái Hường đã thêm: 

- Giá giờ này mỗi đứa có một tô phở ăn thì tuyệt nhất đi rồi. 

Bố tôi đẩy chiếc xe phở đến trước hiên nhà. Lũ bạn của em tôi bấy giờ trố mắt ra nhìn. Tôi thấy rõ sự ngạc nhiên của chúng. Thằng Hiển ghé tai cái Hường nói nhỏ: 

- Bố cái Trâm lại đi bán phở, đằng ấy à. 

Có lẽ em gái tôi cũng nghe thấy, tôi thấy nó cúi đầu buồn bã. 

Bố tôi bước vào, lớn tiếng hỏi thăm bọn trẻ. Cả lũ khoanh tay, cúi đầu chào. Bố tôi vui vẻ: 

- Xuống chơi với cái Trâm phải không? Sao ? Đã ăn sáng chưa? 

Cái Hường khoanh tay lễ phép: 

- Thưa bác, chúng cháu ăn rồi ạ. 

- Các cháu đi xe gì xuống đây? 

- Dạ thưa bác xe lam. 

- Mấy đồng một đứa? 

- Dạ mười đồng. 

Bố tôi lẩm nhẩm tính: 

- Mười đồng bận đi, mười đồng bận về, vị chi là hai chục. Thế bây giờ bác hỏi thật cac cháu điều này nhé, các cháu còn bụng để ăn nữa không? Bác đãi! Ờ ! bác đãi mỗi đứa một bát phở thật đầy. Các cháu chịu không nào? Đền hai chục tiền xe cho các cháu đấy... 

Lũ bạn cái Trâm nhìn nhau. Bố tôi nói: 

- Các cháu e gì? Ngày trước nhà bác khá, các cháu sang sang chơi với cái Trâm, bác đãi nho, táo, kem, ... bây giờ bác nghèo, bác đãi các cháu bát phở không được sao? 

Lũ trẻ ấp úng: 

- Dạ... dạ... 

Bố tôi đẩy xe phở vào nhà. Rồi vừa hỏi thăm bọn trẻ về tình hình xóm giềng trên tỉnh, bố tôi vừa làm phở. 

Mẹ tôi đi chợ về đang khi chúg tôi xì xà xì xụp ăn phở. Lũ bạn cái Trâm hơi ngượng. Mẹ tôi vui vẻ: 

- Tiệc thịnh soạn quá nhỉ? 

Bọn chúng đua nhau buông đũa, thưa: 

- Chào bác ạ. 

- Mời bác ăn phở ạ. 

Bố tôi: 

- Mẹ nó ăn không? Tôi đãi 

- Thôi , cám ơn ông, tôi ăn bún riêu ngoài chợ rồi. 

Nghe mẹ nói, tôi mới sực nhớ đến một điều, tôi hỏi bố: 

- Bố đã ăn sáng chưa? 

Bố tôi cười: 

- Chưa... nhưng mà tao đang ăn đấy, mầy không thấy sao... Bố nhìn chúng mầy ăn, bố no lắm rồi... 

Rồi bố tôi đổi giọng hỏi: 

- Sao, phở ăn được chứ các cháu? 

Thằng Hiển vừa xuýt xoa vì ớt cay, vừa đáp: 

- Ngon lắm bác ạ, bác nấu phở thật tuyệt... 

Bố tôi cười khoái trá. Cái Trâm ngước lên nhìn được nụ cười đó, nhưng nó không cười theo mà nhăn mặt. Đó, em tôi đã thấy rồi đó, thấy một cái gì đó, khó gọi tên nhưng hiện diện thật rõ trong hồn. Cái gì đó là nỗi xót xa thân phận... 

Phải không em Trâm?

Xóm Nhỏ - NGUYỄN THÁI HẢI

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang ngồi và văn bản

Tủ sách Tuổi Hoa - 1971

LOẠI HOA XANH





Nguồn: BC sưu tầm, scan và PANDA đánh máy
--------------------

Lời tác giả :

Thân tặng các bạn : Bình, Phước, Đông, Nhuận

Mến tặng các em: Phượng, Bích, Cúc, Hoàng, Oanh, Thành, Thu, Tuyết, Mạnh, Quang.

Riêng cho khu xóm Phúc Hải ngập lụt của tôi.

N.T.H

Thứ Tư, 14 tháng 6, 2017

Tơ Trời - 8. Tơ Trời

8. Tơ Trời

Hôm ấy, trên vùng Thần Tiên, nàng tiên bé nhỏ Bích Na vừa ngậm xong một quả mật ngọt. Hương hoa dịu dàng tăng mầu xanh thơ ngây lên mắt cô bé, và ửng hồng đôi môi nhỏ. Tâm hồn cô bé thanh thản, trong ngần, trong hơn trời mùa hạ và hơn cả những giọt mưa đông ở thế giới chúng ta. 

Bích Na vươn đôi cánh thiên nga, bay vòng quanh hồ Hư Vô, và bắt đầu ca hát. 

Ở đây không có mặt trời, nhưng ánh sáng thì rực rỡ và lung linh ngàn sắc. Chốn này không có chim muông, mà nhạc điệu thì êm ái và trầm bổng không ngừng. Nhưng đương lúc Bích Na lên tiếng hát thiên thần thì tất cả không gian bỗng dưng lắng đọng, yên lặng nghe tâm hồn cô bé kể chuyện. Ừ,

Tơ Trời 7. Vào Đời

7. Vào Đời

Thế là con xa gia đình gần một tuần rồi. Lần thứ nhất đi xa, và nghĩ là có thể xa mãi mãi, con thấy trong lòng bâng khuâng, bồi hồi thế nào. Mẹ chắc đang trông thư con lắm. Con cũng biết thế mà không sao viết thư sớm về cho mẹ được. Con bận việc quá mẹ à. 

Hôm đi con tưởng con sẽ can đảm lắm và thích thú vì thấy mình sắp được tự mình điều khiển lấy cuộc đời, con thầm nhủ trong lòng : mình sẽ không khóc, chắc chắn như thế. Con có cảm tưởng kỳ cục là nếu con khóc, chắc ở Huế mẹ cũng sẽ khóc. Mẹ con mình đã chẳng từng có những cái rất trùng hợp với nhau là gì phải không mẹ ? Ấy thế mà lúc lên xe đò, nhìn từng ngọn cây, từng dấu đường trôi

Tơ Trời - 6. Chớm Nụ

6. Chớm Nụ

30-4-1967 

Thế là N. giận em. Ra chơi, N. không thèm đi với em nữa, N. ngồi trong lớp một mình. Em cũng muốn xin lỗi nó nhưng thấy nó quay mặt đi, em cũng giận nốt : 

- Đồ làm phách ! 

Em bỏ ra khỏi lớp một mình. Sân trường bây giờ ngợp cả màu trắng. Tiếng đùa reo vang dậy. Em đứng dựa ở cột hiên, nhìn các bạn em chơi nhảy dây và thèm muốn ngắm mấy chị lớn dắt tay nhau thì thầm trò chuyện. Một đám khác đang vây quanh cây mimosa vàng rực ở gần cột cờ. Mỗi lần thấy có cô giáo nào đi ngang qua tụi nó chạy túa đi, vừa chạy vừa cười, chả có vẻ sợ gì. Em và N. cũng thích

Tơ Trời - 5. Khu Vườn Mùa Hạ

5. Khu Vườn Mùa Hạ

Sáng mùa hạ mát dịu. Sương phủ khắp cả khu vườn như mưa xuân. Trời chưa sáng hẳn, khu vườn vẫn còn đắm trong yên lặng. Tuy thế mấy chú ruồi xanh đã bắt đầu bay vần vũ trên không, chả biết có phải để hút sương, hay để tập thể thao sau một đêm ngủ dài mỏi mệt. 

Hoa Hồng khoan khoái mở hé đôi mắt. Đây là lần đầu tiên cô được trông thấy khung cảnh yêu dấu mà suốt thời gian khép mình trong đài hoa, cô hằng ao ước được dự phần vào. Chao ơi, buổi sáng đáng yêu quá chừng. Sao không khí lại dễ chịu đến thế. Cô hít vào một hơi thở dài, vươn mình cho tự

Tơ Trời - 4. Chuyện Ngày Xưa

4. Chuyện Ngày Xưa

Hảo là một bé gái lên bảy, con út của một gia đình quá đông anh em và quá giàu có. Bé có đôi mắt sáng, tròn, lớn, dễ thương, hai má phính hồng, cặp môi đỏ nhỏ nhắn và mái tóc cột đuôi tung tăng trông nghịch ngợm. Bé có một người mẹ đẹp nhưng không biết âu yếm và cả một bầy anh chị xinh đẹp, sang trọng nhưng không biết yêu thương. Bé cũng có năm bảy con búp bế vừa nhỏ vừa lớn không có tên. Bé chưa biết đặt tên cho chúng, nhưng bé yêu nhất là con búp bế tóc màu vàng óng, mặc áo đầm hồng, có hai chiếc răng trắng đáo để. Bé gọi nó bằng em bé và thường bắt chước chị Ba khi ru bé ngủ. Hảo ôm búp bế trong tay, à ơi cho đến lúc búp bê ngủ say, đôi mi cong khép lại nhưng nụ cười vẫn nở mãi trên khuôn mặt hồng hào. 

Tơ Trời - 3. Những con số

3. Những Con Số

Ba vẫn thường cốc vào đầu cu Tý mà la lên : 

- Trời ơi ! Sao mà mày dốt thế hả Tý ? Thực tao chịu, không làm cho mày tính được hai với hai là bốn. Thế mà cũng học lên lớp nhì thì lạ thực. 

Rồi Ba quay sang Má : 

- Hay mấy cô mấy thầy nó cộng điểm nhầm ? Chứ thực tôi thấy nó dốt quá cỡ rồi đó. Ai đời chỉ có mỗi cái phân số mà nó cũng không làm nổi. 

Tơ Trời - 2. Cu Tí

2. Cu Tý

Chân trái ba cu Tý bị băng hơn hai tháng trời . Mấy hôm đầu bột trắng như mấy viên phấn nụ má cất trong hộp . (Má cất kỹ thế thôi chứ chẳng mấy khi dùng, ba ghen có hạng đấy mà). Bây giờ thì nham nhở, đầy cáu ghét, bẩn quá sá . 

Cu Tý còn nhớ cái hồi mới ở nhà thương về, ông y tá dặn đi dặn lại là ba đừng có đi nhiều, và giữ cái chân bột cho sạch . Ba dạ dạ cẩn thận lắm . Được đâu một tuần, ba không ra khỏi giường . Bao nhiêu chuyện có má lo hết . Sang tuần thứ hai, ba đã bực mình vì bị tù túng . Mỗi lần má phải ra ruộng là ba nhổm dậy, nhìn quanh thấy không có ai là a lê, bước xuống giường, lò cò ra ngõ hít khí trời . Má về,

Tơ Trời - 1. Nếp Nhà Xưa

1. Nếp Nhà Xưa

Căn nhà chúng tôi hiện ở bây giờ là của ông bà nội tôi để lại. Tôi còn nhớ thuở tôi còn bé, tôi vẫn thường nghịch ngợm trèo lên mấy cái cột gỗ lim bóng loáng này để rồi lại tuột xuống như người ta leo cột mỡ. 

Nói đến cái hồi tôi còn bé, chắc các bạn tưởng tôi lớn lắm ? Đối với số tuổi 14 của tôi các bạn có thấy lớn không ? Thôi thì tôi thấy tôi lớn lắm. So với đám em bẩy đứa của tôi mà đứa bé nhất mới biết nói

Tơ Trời - TỈ TỈ


LOẠI HOA XANH - Tủ sách Tuổi Hoa - 1969