Thứ Hai, 20 tháng 6, 2016

LỮ QUÁN GIẾT NGƯỜI - CHƯƠNG XIV

CHƯƠNG CUỐI

Mary vẫn vừa đi vừa miên man suy nghĩ. Nàng nhớ lúc trước mẹ nàng vẫn bảo: "Lòng mình khó mà thỏa mãn" và nhất là cái câu: "Khi người đàn bà làm việc cho người khác, vì người khác thì họ dễ vui, dễ yên ổn trong lòng, nhưng khi họ làm cho chính họ thì..." Mary không phải hạng người ích kỷ, nhưng bây giò thử hỏi nàng có ai đâu để mà làm vui, mà sống vì người ấy, cho người ấy? Nàng chỉ còn có ĐẤT ĐAI, làng mạc để bám víu, biết làm sao? Chả nhẽ nàng đi tu? Không, Mary biết rõ nàng: nàng không phải là thứ người có thể quên mình tới mức ấy. Các vị nữ tu khả kính nhưng không thể có nàng trong số ấy. Nàng ham hoạt động, thích vươn vai thở mạnh và khi vui nàng muốn cười to. Nàng muốn có bạn xung quanh, gà, vịt, ngựa, bò, cỏ cây, sông suối, nếu không có ai gần gũi thì các sinh vật ấy cũng đủ vui rồi, và khung cảnh quen thuộc của Helford cũng là quá đủ cho một cô gái đã nếm nhiều gian khổ trong những ngày qua! 

LỮ QUÁN GIẾT NGƯỜI - CHƯƠNG XIII

CHƯƠNG XIII

Trời tháng Giêng thật đẹp. Một lớp tuyết mỏng phủ lên mặt đường, mặt nước và trên bùn nom loang loáng như một tấm gương vĩ đại lấp lánh phản chiếu ánh mặt trời. Trời xanh mầu ngọc bích, không một gợn mây vương, trong vắt. 

Mặt đất khô cứng, những cọng cỏ ngắn, dòn, rào rạo dưới mỗi bước chân như khi người ta dẫm trên lối đi trải sỏi vụn. 

Quanh vùng, trên những lối đi nhỏ hẹp cạnh hàng giậu thưa, vầng dương chiếu sáng và sưởi ấm bầu không khí trong lành, tinh khiết. Hương vị đầu xuân thoang thoảng, e ấp và đầy quyến rũ. 

Chủ Nhật, 19 tháng 6, 2016

LỮ QUÁN GIẾT NGƯỜI - CHƯƠNG XII

CHƯƠNG XII

Đêm đen, gió rét, không khí ẩm. Trăng bị mây đen che khuất, như đồng lõa với kẻ ác trong cuộc đi trốn. Mary tự hỏi có thể kêu cứu bằng cách đánh thức dân làng? Cùng lúc ấy, nàng thấy bàn tay người đàn ông trước mặt: 

- Đừng nghĩ bậy, Mary! Ở Altarnun này dân chúng vào giường sớm. Cô mà mở miệng, thì chỉ trong nháy mắt cô đã nằm dài bất động dưới cỏ ướt, tuổi trẻ và sắc đẹp tiêu tan... Và khi dân chúng mở mắt ra, họ chỉ còn biết thương tiếc cô, còn tôi, tôi biến mất vào bóng tối. Đừng sợ lạnh, ngựa chạy một lúc sẽ ấm. Vả lại, cô đã quen với những cuộc hành trình khó nhọc rồi mà! 

LỮ QUÁN GIẾT NGƯỜI - CHƯƠNG XI

CHƯƠNG XI

Một tiếng động khẽ sau lưng làm Mary giật mình. Cha Davey bước vào: 

- Cô đã khỏe chưa? Tôi có làm rộn cô không? 

- Thưa cha không, con đang mong cha về. 

- Thật ư? Thế thì tốt quá! Mary! Cô đã dùng bữa với tôi một lần, bây giờ lại ăn với tôi lần nữa, nhé? 

Ông nói và tháo đồng hồ tay ra sửa lại theo đúng đồng hồ treo tường. Giọng ông đều đặn: 

LỮ QUÁN GIẾT NGƯỜI - CHƯƠNG X

CHƯƠNG X

Mary rụt rè bấm chuông. Chó sủa dữ dội, rồi tiếng chân lạo xạo trên sỏi và cổng hé mở; một gã đàn ông lực lưỡng quát chó im đoạn nhìn sững Mary. Nàng nói mau: 

- Tôi cần gặp ông Bassat có việc gấp. Việc quan trọng nên tôi mới làm phiền vào giờ này.

- Chủ tôi đi Launceston sáng nay có chuyện gấp, chưa về. 

- Trời ơi! Nếu tôi không gặp ông ấy thì tên sát nhân sẽ trốn mất. Tôi cầu cứu ai bây giờ? Bác có thể giúp tôi chăng? Van bác... 

LỮ QUÁN GIẾT NGƯỜI - CHƯƠNG IX

CHƯƠNG IX

Mary cố nhớ lại xem mình đang ở đâu. Xe ngừng chạy, mưa thôi bay vào mặt nàng từ bao giờ? Nàng rên rỉ, quay nhìn hai bên: ra nàng đang nằm trong phòng, ở lữ quán. Nàng chán nản, không còn thiết sống. Nàng qua nhiều thử thách, nhưng chưa bao giờ xúc động đến mức này. Sức mạnh tinh thần và thể xác nàng như bị đập tan nát. Cô khóc rưng rức... 

Bỗng dì cô hiện ra, đôi mắt buồn lo khổ sở. Hai người ôm nhau khóc lặng. Mary hỏi dì: 

- Dì biết chuyện gì không? 

Mắt dì nàng như van xin khẩn thiết nàng đừng hỏi. 

LỮ QUÁN GIẾT NGƯỜI - CHƯƠNG VIII

CHƯƠNG VIII

Còn ba dặm nữa mới về đến lữ quán. Nếu linh mục nói đúng thì còn gì vui hơn! Kỷ nguyên của bọn đánh đắm tàu chấm dứt. Họ sẽ biến mất theo bóng đêm. Tàu bè đến Anh quốc sẽ không sợ hãi gì nữa. Người ta yên lòng mà du lịch. Mọi người sẽ quên những chuyện kinh hoàng. Trên đồng hoang nông dân sẽ đến trồng trọt, khai khẩn, chả ai sợ lữ quán Giao Mai... Nàng và Jean sẽ... 

Bỗng Mary giật mình: qua cửa sổ xe nàng thấy có tia lửa xẹt và hình như cả tiếng súng, tiếng hú vang xa. Rồi tiếng chân và tiếng người quát tháo. Nàng nghiêng người, chồm ra nhìn, mưa tạt vào mặt nàng, bác phu xe rú lên một tiếng, toan quay xe lại nhưng không kịp nữa. Đoàn người tiến đến sát xe, tên đi đầu có cầm đèn lồng, chúng nhảy tới chứ không phải đi. Đoàng một tiếng, bác phu xe gục tức thời; tiếng kêu cứu tắt nghẽn trong cổ họng. Xe chao qua, đảo lại dễ sợ. 

LỮ QUÁN GIẾT NGƯỜI - CHƯƠNG VII

CHƯƠNG VII

Hôm áp lễ Giáng Sinh trời báo hiệu một cơn mưa sắp đến, phòng Mary ẩm ướt, nàng nghiêng mình ra cửa sổ, gió tạt vào mặt. Một giờ nữa, Jean chờ nàng ở đồng hoang, cùng đi Launceston. Nên đi không? Bốn ngày nay, Mary già đi: mắt thâm quầng, má hóp, bơ phờ; nàng ăn không được, ngủ không được. Có lúc nàng thấy mình cũng có vết nhăn ở trán, tóm lại nàng gần giống như dì! Nàng ở lỳ trong phòng, viện cớ bị cảm. Nàng xót thương dì quá: bà đã bị bí mật kinh hoàng này đè nặng bao lâu? Sau này, dù nàng có đưa dì đi đến đâu, bí mật này vẫn đeo đẳng bên dì. Trời ơi! Nàng đã biết rồi, cái duyên cớ khiến dì gần như mất trí. Dì nàng cũng mang tội ác, dì đồng lõa với chồng bằng sự im lặng của dì. Dì đã dung túng, mặc cho con quỉ dữ lộng hành. 

Thứ Bảy, 18 tháng 6, 2016

LỮ QUÁN GIẾT NGƯỜI - CHƯƠNG VI

CHƯƠNG VI

Khung cảnh trong nhà êm ả, đặc biệt làm Mary tưởng đây là một căn nhà trong truyện cổ: có hàng rào gai mà anh hùng trong truyện sẽ chặt để lấy lối đi, bên trong là vườn hoa đủ loại. Dưới khung cửa sổ, hoa mọc từng khóm và huệ trắng vươn cao, dây leo mọc phủ vách, che khuất luôn cổng ra vào và ngôi nhà như... yên ngủ từ lâu lắm. 

Mary chợt mỉm cười vì tưởng tượng của mình. Nàng lại đưa tay hơ trên lò sưởi. Sự im lặng làm nàng thích thú, thấy khỏe và hết sợ. Khác xa lữ quán Giao Mai: không nặng nề, bừa bãi, đầy đe dọa. Tủ, ghế, bàn, cả những tranh treo trên vách đều tỏa ra sự ấm cúng tuy không thân mật. 

LỮ QUÁN GIẾT NGƯỜI - CHƯƠNG V

CHƯƠNG V

Đêm ấy xe ngựa trở lại. Nàng thức giấc lúc hai giờ sáng. Nhìn ra cửa sổ, cô gái thấy chỉ có hai xe thôi. Cỡ sáu người tất cả. Những xe ngựa có vẻ kỳ bí và giống như xe tang. Bóng người di động trên sân lặng lẽ. Mary tưởng như đó là hình ảnh của một ảo mộng. 

Nhưng đó là sự thật, các xe đều trống rỗng, hàng hóa từ trong phòng được khuân ra, chất ngập xe. 

Tại Helford, ít ai nói tới chuyện buôn lậu, mà có nói đến thì bằng cái nháy mắt và nụ cười khoan thứ, y như những chai rượu lậu chỉ là một xa xí phẩm vô hại chứ không phải là một tội ác đè nặng lương tâm. Đây khác hẳn: bọn bất lương đã nhúng tay vào máu người. Kẻ nào thấy lương tâm cắn rứt, thì sẽ lãnh một sợi dây tròng vào cổ như nàng đã thấy. 

Tổ chức của Joss như một vòng xích sắt: không có khoen nào được yếu. Bỗng Mary có cảm tưởng Jean đến với mục đích rõ ràng: Hắn báo trước cho anh biết xe đến đêm nay. Mary chợt giận mình quá đỗi, vậy mà nàng tưởng sẽ là bạn với Jean. Anh em họ cộng tác với nhau, rõ ràng quá. Chắc một điểm lương tâm vùng dậy, ngo ngoe trong chốc lát, xui anh ta quan tâm đến số phận Mary, khuyên nàng rời lữ quán, vì anh ta biết rõ cái gì đợi Mary. 

Vậy mà cô lại vướng víu bà dì như vướng bận đứa nhỏ còn ẵm ngửa, có bực không? 

Các xe đã đầy nhóc hàng hóa, chúng lặng lẽ lần lượt rời lữ quán. 

Công việc đêm nay nhanh chóng hơn lần trước. Cũng không có ai đột nhập bí mật vào như lần trước, trò chuyện cùng chủ quán... 

Nhiều ngày tiếp theo, không có gì xảy ra. Những chuyến xe chạy ngang, lủi nhanh như một con bọ hung bị đuổi. 

Một sáng kia trời lạnh, đá phủ ngập sân, mặt trời le lói giữa bầu trời trong sáng. Núi đá sừng sững mầu xanh thẫm, các vũng lầy thường ẩm và nâu hôm nay cũng hóa trắng, lấp lánh ánh nắng chan hòa. 

Gió thổi nhẹ. Mary bớt nản khi thấy mặt trời. Nàng mang áo quần đi giặt. Nước ấm và bọt xà phòng làm nàng thích thú, vừa hát vừa làm việc. Sáng nay, Joss lên ngựa ra đi. 

Mỗi lần lão đi, Mary thấy nhẹ nhõm lạ. Bỗng có tiếng gõ vội vàng nơi cửa kính. Mary quay lại nhìn, dì nàng tái xanh ra hiệu cho nàng vào nhà. Mary vội chùi tay vào tạp dề, chạy vào cửa sau, dì ôm lấy Mary run rẩy, lắp bắp không ra tiếng. Mary trấn an dì: 

- Có gì vậy, thưa dì? Đừng sợ, dì cứ thong thả nói... Dì ngồi xuống đi! 

Nàng nói và dìu dì lại ghế. Dì Patience cắn môi, hất hàm chỉ ra cửa, thì thào: 

- Ông Bassat! Ông đến với một người nữa! Chúa ơi! Ta làm sao đây, hở Mary? 

Tiếng dì nghẹn trong cổ họng trong lúc tiếng gõ cửa cấp bách hơn. Dì nói như rên: 

- Ông tới làm chi hở trời? Ông ấy có tới đây bao giờ đâu? Chắc ông ấy nghe chuyện gi rồi. Mary! Làm sao? 

Mary suy nghĩ thật nhanh: nếu đại diện pháp luật đến thì còn đợi gì nữa? Nàng sẽ kể hết, sẽ tố cáo không sót một chi tiết nhỏ. Nhưng dì nàng run rẩy nắm chặt tay nàng, van vỉ: 

- Mary! Cháu hãy cứu dì! Cháu hãy thương dì... Nếu có chuyện gì xảy ra cho anh ấy, dì chết mất! Cháu ơi! Mary... 

Tiếng gõ cửa càng gấp. Mary nói: 

- Dì cứ yên tâm. Ta phải mở cửa cho họ vô nhưng dì đừng kể lôi thôi chi cả. Cứ nói chú đi vắng và dì không biết gì là yên. Có cháu đứng bên dì, đừng sợ. 

Mary lại mở cửa. Hai người lạ đứng ở cổng. Một người to lớn cưỡi con ngựa ô tuyệt đẹp, mặc áo choàng, mũ gần kín mắt, khoảng 50. Ông quát: 

- Làm gì lâu lắc vậy? Coi bộ lữ quán này không muốn tiếp khách hàng phải không? Chủ nhân đâu? 

Dì Patience đẩy cháu tới trước. Mary điềm tĩnh: 

- Ông Merlyn đi vắng. Nếu ông muốn giải khát, xin mời hai ông vào, chúng tôi xin hầu... 

- Hừ! Hết chỗ rồi sao đến đây giải khát? Ta muốn gặp chủ nhân. Bà này là vợ Merlyn, bao giờ chồng bà về? 

- Dạ thưa ngài, nhà tôi đi từ sáng sớm và không biết có về kịp tối nay không? 

- Phiền chưa! Tôi muốn nói chuyện với ông ta. Này, bà Joss! Dù chồng bà đã lừa tôi mua được lữ quán này, nhưng tôi cũng không đến đây vì chuyện đó nữa. Điều tôi không dung được là đất đai quanh đây của tôi bị mang tiếng vì chuyện bất lương xảy ra khắp vùng... 

- Thưa, tôi không hiểu ngài muốn nói chi? Chúng tôi sống thật yên tĩnh. Có cháu tôi đây, biết rõ... 

Hai tay đan vào nhau, dì Patience nói. 

- Thôi! Tôi không ngu đâu. Tôi để ý lữ quán này lâu rồi. Lữ quán này làm cho dân quanh đây đến tận bờ bể đều khiếp đảm. Chớ giở trò đóng kịch với tôi. 

Tên giúp việc nắm cương ngựa cho chủ nhân bước xuống. Ông Bassat nói: 

- Nhân dịp này, ta cần xem xét khắp nhà. Bà đừng phản đối vô ích. Ta là quan tòa, có giấy khám nhà đây. 

Ông vượt qua hai người, bước vào trong. Bà dì giơ tay ngăn, nhưng cháu bà khuyên: 

- Dì nên để ông ấy khám. Ngăn lại chỉ tổ ông nổi giận lên. 

- Chúa ơi! – Ông Bassat kêu to – Sao mà giống nhà mồ quá! Các người làm sao nên nỗi này? Xưa kia lữ quán xinh xắn bao nhiêu! Bàn ghế đâu? 

Ông xông vào phòng khách và trỏ những vách ẩm ướt: 

- Không bao lâu nữa mái nhà sẽ đổ ập xuống cho xem! Đời tôi, tôi chưa từng thấy sự bê bối đến mức này. Nào! bà đưa tôi lên lầu coi. 

Mặt tái xanh, dì Patience quay về phía cầu thang mắt tìm mắt Mary để trấn tĩnh. Mỗi góc nhà đều được ông Bassast ghé mắt nhìn, ông giở từng cái bao cũ, quan sát đống khoai tây. Miệng ông không ngớt quát tháo vì kinh tởm và giận dữ: 

- Đây là lữ quán ư? Không có lấy một cái giường? Mọt ăn từ trên xuống dưới, bẩn thỉu hôi hám... Bà hóa câm rồi sao, bà Merlyn? 

Dì Patience chỉ lắc đầu, ông Bassat quay sang cô gái: 

- Vậy còn cô? Cô có gì nói không? 

- Thưa, tôi mới đến đây, mẹ tôi mất nên tôi đến ở với dì tôi. Dì tôi không được mạnh trong mình, thần kinh yếu... 

- Sống ở đây thì thần kinh yếu là phải. Nào, cô dẫn tôi đến căn phòng kín mít dưới kia xem! 

Dì Patience nhìn Mary trân trối. Mary gượng làm gan: 

- Thưa, ông muốn nói căn phòng làm kho phải không ạ? Chú tôi đã khóa lại trước khi đi, và tôi không biết chìa khóa ông ấy để đâu hay mang theo. 

- Vậy thì hỏi coi bà ấy có cất hay không? 

Dì Patience lắc đầu lặng lẽ. 

- Được! Không sao! Ta đập gãy cửa mà vào! 

Nói xong, ông ra sân gọi người giúp việc. Mary nắm tay dì thật chặt: 

- Dì đừng run, người ta biết. Cứ phớt tỉnh, may ra... 

Gã người làm cầm thanh sắt lăm lăm trong tay. Gã có vẻ hài lòng vì công tác chủ giao phó. Mary hẳn sung sướng nếu không có dì bên cạnh. Lần đầu, nàng được ghé mắt vào căn phòng bí mật. Nhưng nếu họ khám phá ra cái gì thì hai dì cháu sẽ liên lụy, làm sao chứng minh là mình vô tội? Ai tin được nàng, khi dì nàng mù quáng bênh vực kẻ bất lương? Nàng bối rối đứng nhìn thanh sắt đập đùng đùng vào then cửa, tiếng động vang lên chát chúa. Khá lâu cửa mới gãy nghe răng rắc và bật ra. Dì nàng kêu lên trong lúc ông Bassat đẩy bà qua một bên, lấy lối đi vào. Richards vuốt mồ hôi bò dài xuống mặt. 

Căn phòng tràn bóng tối, mấy chồng bao sắp dọc theo cửa sổ đóng kín. Ông tòa hét: 

- Đem cho ta mẩu nến coi! Y như đáy giếng... 

Richards rút trong túi mẩu nến bật diêm đốt lên trao cho chủ, ông cầm giơ cao lên bước tới. 

Ông soi vào từng góc, trong lúc tất cả lặng im. Ông tỏ vẻ tức tối vì thất vọng: 

- Lạ thật! Không có gì cả! 

Trừ chồng bao trong gốc, phòng trống trơn. Bụi và mạng nhện chen nhau trải khắp phòng. Không bàn, không ghế, không tủ giường chi hết. Ống khói cũng bịt kín mít. Trên chồng bao, có sợi dây thừng. 

- Được! Lần này tôi thua lão Merlyn! Nhưng có một ngày, hắn sẽ đền tội xứng đáng! 

Ông quay ra. Gã Richards dắt ngựa lại cho chủ. Ông lại hỏi cô gái: 

- Này, cô nên nghe tôi, dì cô chắc câm và không còn trí nhớ. Cô hiểu tiếng Anh chứ? Đừng giả vờ không biết gì cả về hành động cũng Merlyn. Hãy cho tôi biết có ai đến đây, ngày hoặc đêm? 

Mary nhìn thẳng vào mắt người hỏi (lần thứ nhất vì dì nàng, nàng nói dối trơn tru): 

- Quả thật chưa bao giờ tôi thấy ai đến, ngày cũng như đêm. Vả lại tôi ngủ say quá, vì vất vả cả ngày. 

- Cô biết vì sao phòng kia kín mít? Cô đã vào lần nào chưa? 

- Dạ chưa và tôi không hiểu ý chủ nhân nổi, ông là một người kỳ lạ. 

- Đúng, kỳ lạ lắm: lữ quán mà không tiếp khách... Kỳ lạ đến nỗi dân quanh đây chỉ có thể yên giấc khi Merlyn bị treo cổ như cha hắn trước kia. Cô nói lại với hắn khi hắn trở về, nói y như tôi nói, nghe? 

- Thưa ông, tôi sẽ nói đúng như ông dặn. 

- Này, cô không ngán phải sống với một người khùng như bà Merlyn ư? 

- Thưa ông, đó là em ruột mẹ tôi... 

- Cô thông minh, nhanh trí lắm. Nhưng tôi không ao ước làm cha mẹ cô. Thà tôi thấy con tôi nằm dưới đất còn hơn để sống trong lữ quán Giao Mai với kẻ bất lương. À, quên, (ông đã bước ra rồi lại quay vào) cô có thấy Jean Merlyn, em ruột chủ quán không? 

- Thưa ông, chưa. Tôi chưa hề nghe đến tên này. 

- Thật ư? Tốt lắm. Thôi, chào cô! 

Đợi cho người ngựa khuất sau đồi, Mary mới nói với dì, giọng hằn học trong lúc bà ngồi bệt xuống thở hổn hển: 

- Thôi, hết nguy hiểm rồi. Dì nên bình tĩnh lại. Dì chú đã qua mặt ông tòa mà khỏi bóp kèn... Tài quá! 

Nàng rót nước uống một hơi, mất hết cả dịu dàng, kiên nhẫn. Nàng đã nói dối để cứu kẻ ác, trong lúc nàng chỉ muốn khai toạc hết sự thật. Nàng đã thấy sợi dây, nàng muốn Joss bị treo cổ bằng chính sợi dây hắn dùng treo cổ kẻ lạ trong đêm... Nàng muốn... nhưng vì dì nàng, nàng đã không dám tố cáo kẻ bất lương. Thật ghê tởm: Mary là đồng lõa của quân gian? Uống đến cốc nước thứ hai, Mary lại nhớ mình còn nói dối để cứu Jean, tên trộm ngựa. Nhục nhã, xấu hổ biết ngần nào?

*


Trưa đó, Joss trở về, được vợ đón ở cửa bằng một tràng dài, tiếng nọ dính tiếng kia. Mary ngồi yên ngoài vườn. Nàng thấy chẳng việc gì phải chen vô. 

Thỉnh thoảng, Joss gặng hỏi lại đôi câu, giọng bẳn gắt. Rồi ông ta đến cửa sổ, vẫy nàng, mặt cau có: 

- Về đây! Kể đầu đuôi nghe coi. Một con vẹt còn nói rõ hơn dì cô... 

Mary bình tĩnh kể lại câu chuyện, trừ chuyện ông tòa hỏi Jean. Sau cùng Mary nhắc lại lời ông tòa dặn nàng. Joss im lặng nghe, chờ Mary dứt lời, lão đá cái ghế ra tận cửa, gầm to: 

- Đồ hèn! Nó làm gì có quyền xét nhà? Trát tòa gì! Bịa! Vậy mà hai con ngu cũng để nó vô. Sáng nay mà có tao coi, nó sẽ về North Hill mà ngay vợ nó cũng không nhận ra và nó sẽ không còn ra con người nữa. Đồ chó má! Nó có quyền sinh sát với ai kìa, chớ tao thì... còn lâu. Rồi nó sẽ van lạy tao cho mà coi. Chà! Hai con ngu sợ dữ, há? Có ngày tao đốt nhà nó cho coi... 

Joss la to đến nỗi Mary tưởng tai mình điếc luôn. Nhưng cô gái không sợ tí ti nào. Cô biết đó là một cách... để đỡ tức, không có gì nguy hiểm. (Chỉ khi nào con người này thì thầm mới đáng gớm.) Có thể lão đang sợ cũng nên? Mary lấy làm thú vị mà nghĩ đến điều này. 

- Lấy gì ăn coi! Ta còn phải đi có việc đây. Patience! Câm họng lại, bà khóc làm ta điên thêm. Mary cô khá lắm. Ta biết ơn cô đó! 

- Bộ chú tưởng tôi làm vậy vì chú chắc? 

Mary nhìn thẳng vào Joss, hỏi. 

- Vì ai thì vì, ta không cần biết. Cắt miếng bánh coi! Đừng nói nhiều. 

Xong bữa ăn, Joss ra chuồng ngựa. Mary tưởng lão cỡi ngựa đi, nhưng lão lại thôi, ra bếp, leo rào và đi bộ, băng qua đồng hoang phía sau, tiến về phía núi đá Telbo-Hough. Nàng do dự, không biết có nên thực hiện điều dự tính chăng? Sau cùng, Mary cởi tạp dề, khoác khăn len, chạy theo Joss. Đến đỉnh đồi cô phải nấp sau tảng đá, chờ Joss đi khuất thật xa mới dám theo sau. Cô rẽ cỏ dại, bước tràn trên đá sỏi. Nàng nghi là sự có mặt ông tòa bất ngờ làm cho Joss thay đổi chương trình. Bây giờ đang xế trưa, rất dễ cho nàng theo dõi lão. Đất hơi khô, đá đông cứng, nhưng Mary đã có kinh nghiệm qua những bận đi dạo trước. 

Sau vài dặm, cuộc theo dõi bắt đầu khó hơn: nàng phải giữ khoảng cách khá xa mà Joss thì lại đi nhanh. Khỏi núi đá Codda, Merlyn rẽ qua hướng đông, lão chỉ là một chấm đen nhỏ giữa đồng hoang bao la nâu sẫm, dù lão vốn cao lớn. 

Chốc chốc, Mary phải dừng chân, lấy tay gạt mồ hôi trán. Trót theo khá xa, Mary không thể bỏ cuộc, ít ra phải khám phá được điều gì mới bõ công chứ? Nàng dẫm trên mặt đất nâu và đầy sình lầy, nước ngấm vào giầy vừa lạnh vừa nặng. Váy nàng bị rách lai vài chỗ và cũng ngấm nước. Đã qua đoạn đường nguy hiểm và phía trước, Joss mờ mờ qua đám cỏ gai rồi khuất sau tảng đá đen ngòm, mất hút. 

Giữa bụi rậm và bùn, Mary mất dấu Joss, phần sợ sa lầy nàng phải vòng lên trên và trượt chân mấy bận. Càng lúc đá lởm chởm thêm. Vài con dê rừng nghe tiếng động thò đầu nhìn Mary. Mặt trời núp sau những đám mây từ hướng tây tụ lại. Đồng hoang đổi mầu. Im lặng một cách dễ sợ. Khi Mary lên đến ngọn núi, xung quanh toàn mầu xám. Từ các vũng bùn, những làn hơi trắng mờ nhẹ bay lên. Trời như sắp tối. Joss biến mất tăm. Mary tuyệt vọng. Đành quay về thôi, nếu chần chờ, đêm nay nàng sẽ lạc giữa núi đá hay đồng hoang mất. Quả mình ngu – Mary thầm nghĩ – Trời tháng chạp mau tối, hoàng hôn trên đồng hoang rất ngắn, đêm xuống mau không có giai đoạn chuyển tiếp. Mà sương mù càng nguy hiểm: y như một hàng rào trắng dày, che phủ mặt, cách năm tấc, có khi không thấy chi hết. 

Mary chạy bổ xuống núi, bóng tối như đuổi gấp sau lưng. Ngay dưới chân nàng là nguồn sông Fowey. Phải tránh nơi đó, vì mặt đất quanh đó rất dễ lún sâu. 

Vòng phía trái, Mary thận trọng mỗi bước chân. Khi cô xuống đến đồng bằng, bỏ sau lưng ngọn Brow Willy uy nghi, cô độc thì sương mù và bóng đêm đã ngự trị khắp nơi, làm nàng không sao tìm ra phương hướng. 

Nàng cố trấn tĩnh tìm lối về nhà. Quấn chặt khăn quàng và kéo váy lên cao Mary bước nhanh. Bỗng nàng bị con suối chắn ngang, lúc đi đâu có suối? Nàng biết mình lạc đường rồi nhưng vẫn can đảm lội qua, nước lên tới gối. Nàng cho là mình rất may, vì suối không sâu hơn. Mặt đất cao dần, Mary yên lòng bước tới... 

Đường như dài bất tận, dẫn đến một ngã rẽ về phía phải. Cỏ mọc um tùm chứng tỏ ít người qua lại nhưng cũng có vết xe ngựa. 

Bớt lo lắng, nàng mới thấy mệt lử, cô gái lầm lũi bước, tim đập rộn ràng, hơi thở hổn hển. Nàng nôn nả mong thấy ống khói của lữ quán Giao Mai, như mong gặp bạn thân, nhưng một con đường khác nữa băng ngang giữa lối đi và nàng phân vân không biết nên theo lối nào. Cùng một lúc, có vó ngựa lại gần. Mary đứng lại giữa đường, chờ đợi. Thoáng chốc, bóng ngựa rõ dần, có người trên lưng. Người cỡi ngựa có vẻ sợ khi thấy Mary, kêu lên: 

- Ai đó? Có người phải không? 

Rồi nhận ra Mary, ông ta kinh ngạc, hỏi: 

- Một phụ nữ? Trời ơi! Bà đi đâu vậy? 

Mary nắm cương ngựa: 

- Xin ông chỉ giúp đường về, tôi đi lạc... 

- Nhưng cô ở đâu? Tôi sẽ giúp cô. 

Giọng ông ta chậm rãi, dịu dàng, Mary đoán là một người có thế lực. 

- Thưa ông, tôi ở lữ quán Giao Mai... 

Lỡ lời Mary chợt hối. Nghe tiếng đó, chắc ông giục ngựa dông thẳng mất? Người kia im lặng. Mary càng hoảng. Nhưng ông ta lại cất giọng dịu dàng, không thay đổi: 

- Vậy thì cô đang cách đó rất xa. Hiện đây là sườn đồi Hendra... 

Ông nhìn chăm chăm cô gái, tiếp: 

- Cô kiệt sức rồi. Làm sao đi nổi? Vả tôi cũng không nỡ bỏ cô ở đây một mình. Đây không xa làng mấy. Hãy theo tôi, lên ngựa. Đây! Tôi đỡ cô lên! 

Mary tuân lời người lạ. 

- Hãy về nhà tôi, sưởi ấm và khô giầy áo, ăn chút gì đỡ lòng rồi tôi đưa cô về lữ quán. 

Giọng ông ta âu yếm nhưng trang nghiêm, Mary muốn quên hết, tuân theo để được nghỉ ngơi giây lát. Nàng cho là may mắn nàng đã gặp người khả kính. Khi ông ngước mắt nhìn lên, Mary thấy rõ mặt ông ta: đôi mắt lạ lùng, trong như thủy tinh, gần trắng nhợt. Mary cảm thấy ông ta soi thấu tâm can mình. Tóc ông ta cũng trắng toát. Kỳ quá: ông ta đã già đâu? Khuôn mặt, giọng nói đều chứng tỏ ông còn trẻ. Nàng bối rối trong một thoáng khi nhận ra điều này: ông ta bị chứng bạch tạng. 

Người lạ giở mũ, nghiêng mình, tự giới thiệu: 

- Mặc dù cuộc gặp gỡ bất ngờ, tôi cũng cho cô biết: tôi là Francis-Davey, linh mục phó xứ Altarnun.
_______________________________________________________________ 
Xem tiếp CHƯƠNG VI

LỮ QUÁN GIẾT NGƯỜI - CHƯƠNG IV

CHƯƠNG IV

Mary vẫn ở lại Giao Mai lữ quán, nhưng nàng đã có chủ đích: nàng sẽ thuyết phục dì cùng rời Lữ quán trở lại Helford. Đó là niềm hy vọng của nàng và trong lúc chờ đợi dài dẵng – không biết lúc nào dì nàng mới nghe nàng? – nàng quyết dùng thì giờ đó tìm cách tố cáo Joss và đồng lõa. Nếu họ chỉ buôn lậu, Mary đã nhắm mắt bỏ qua. Chúng là những kẻ liều lĩnh, gan lì, không có lương tâm, ngay cả việc giết người cũng không làm chúng gớm tay. Sợi dây trên sà nhà chứng tỏ hành tung chúng. Người lạ đã bị chúng treo cổ và lấp xác giữa đồng hoang. 

Tuy vậy, giữa ban ngày, mọi sự lại có vẻ yên tĩnh, sợi dây biến mất, quầy rượu được chùi rửa kỹ càng. Joss bận bịu ngoài chuồng ngựa. Vẻ thản nhiên của lão làm Mary đôi khi ngờ ngợ tưởng mọi sự xảy ra trong mơ. Nhất là khi lão hỏi thăm nàng về gia súc ở Helford, hỏi ý kiến nàng về con bò bị bệnh, về thời tiết, mùa màng. 

Lão có vẻ vui là khác, không còn chửi rủa vợ. Còn dì nàng, bà vồn vã săn sóc lão, luôn luôn nhìn vào mắt lão để dò thái độ, nom như một con chó trung thành muốn làm đẹp lòng chủ nhân. Lão như mọi đàn ông lương thiện khác, khó tin là lão đã phạm tội ác như Mary tận mắt chứng kiến trong đêm. Mary không khỏi kinh ngạc: lão ngồi đối diện nàng, thưởng thức món ra gu, tỏ vẻ quan tâm đến con bò bị đau như một nông dân chính cống!

Hai tuần trôi qua trong yên tĩnh. Mẻ làm ăn vừa qua khá lớn, để lão và đồng bọn có thể nghỉ ngơi? Vì nếu có xe đến trong đêm, thế nào cô gái cũng nghe được. 

Joss không ngăn nàng đi dạo trên đồng. Dần dần cô gái biết hết vùng lân cận. Nàng vẫn theo đường lớn dẫn đến đồi núi, tránh những nơi có cỏ, thấp và ẩm vì nàng biết đó chính là những đầm lầy nguy hiểm. Mặc dù đơn độc, Mary chả lấy thế làm điều. Những buổi xế đi dạo dưới bầu trời mát dịu nắng giúp cho sức khỏe cô gái tăng lên, thần kinh bớt căng thẳng và nàng bớt buồn, những cơn buồn chợt đến do các buổi tối rảnh rỗi, dài dặc ngồi cạnh dì nàng. Dì thường ngồi lặng, hai tay đặt lên gối, mắt nhìn đăm đắm vào ngọn lửa, Joss thì một mình bên quầy rượu đóng kín cửa hay lấy ngựa đi. 

Không một người bạn, không một khách hàng. Quả bác phu xe nói không ngoa: không một xe ngựa nào dừng lại Lữ quán Giao Mai. Mỗi tuần đôi bận, xe có chạy ngang, nhưng gã phu xe nào cũng ra roi giục ngựa chạy mau. Một hôm, Mary mừng rỡ nhận ra bác phu xe đã chở nàng, nàng vẫy tay nhưng bác ta lờ đi, quất thẳng cánh vào đôi ngựa. Mary tưởng chừng như nàng vừa bị quất: ai cũng xem nàng là đồng lõa của Joss chăng? Mary tin rằng bây giờ nàng đi đến đâu chắc chẳng ai mở cửa đón nàng. 

Tương lai thật đen tối, nhất là dì nàng cũng không thích tiếp xúc với ai. Đôi khi, bà nắm tay cháu vuốt ve và thì thào: “Dì thật sung sướng có con bên cạnh”. Hầu như dì sống trong lo âu thường trực, cặm cụi việc nhà, im lặng như cái bóng mà động có mở miệng thì lại nói toàn những điều vô lý về đấng thần tượng Merlyn, rằng nếu không gặp vận đen, lão đã là một vĩ nhân! Biết không thể nói chuyện với dì được, Mary quen dần nghe dì kể lể: nàng đối xử dịu dàng với dì như với đứa trẻ đáng thương. Đôi khi, nàng sốt ruột, bực bội nhưng cố nén. 

Trong tình trạng khó chịu này, một sáng, Mary lau chùi dọc hành lang. Công việc nặng nhọc làm giãn gân cốt nhưng lúc đó chỉ làm nàng cáu kỉnh. Càng lúc nàng càng bực thêm. Sao mà người và lữ quán này dễ ghét thế? Mary muốn xách cả xô nước bẩn tạt vào mặt Joss cho hả. Lão đang làm vườn, mưa lấm tấm ướt mớ tóc bù. Chợt thấy dì nàng lom khom trong bếp, Mary dịu lại, uể oải xách xô nước bước xuống. 

Bỗng có tiếng giày ngoài sân và tiếp đó, tiếng gõ cửa quầy rượu dữ dội. Từ khi đến đây, cô gái chưa hề thấy bóng người đến lữ quán giữa ban ngày. Một sự lạ. 

Mary toan báo cho di biết thì bà lại đã ra vườn với Joss, cả hai đều không hay có người. Mary lau tay vào tạp dề rồi vào quầy rượu, nàng ngạc nhiên thấy gã nọ đã chễm chệ ngồi trên ghế, tay cầm ly bia một cách rất tự nhiên. 

Cả hai lặng lẽ nhìn nhau. Hình như Mary đã gặp hắn ở đâu thì phải, miệng thanh tú, mi rậm, cái nhìn ngang ngược, thách thức. Gã nhìn nàng xoi bói làm Mary giận dữ: 

- Ông tính giở trò gì đó? Tự tiện vào rót bia uống... Tôi cho ông hay: chủ quán không thích người lạ đâu. 

Vào lúc khác, có lẽ nàng không có thái độ đó, nhưng vì vừa mệt lại đang bực, cô trút hết căm tức vào kẻ lạ. Gã trẻ tuổi cũng không vừa: gã cạn ly rồi ra hiệu cho Mary rót thêm, gã rút ống điếu châm thuốc hút, phà khói vào mặt cô gái, hỏi: 

- Cô giúp việc cho Lữ quán này được bao lâu rồi? 

Mary tức giận, lao tới, giật cái ống điếu vứt xuống đất làm nó gãy đôi. Gã kia chỉ nhún vai và huýt sáo làm nàng càng tức. 

- Ở đây, họ dạy cô tiếp khách cách đó ư? Tệ quá! Hôm qua, ở Launceston tôi gặp nhiều cô chiêu đãi lịch sự và xinh như... tiên cơ! Mà nom cô luộm thuộm quá, tóc tai mặt mũi... Mà thôi, cái đó mặc cô. Rót bia cho tôi. Tôi đi 12 dặm đường, khát lắm. 

- Ông đi mấy dặm kệ xác ông. Ông có vẻ quen biết nhà này, rót lấy mà uống... Tôi báo cho chú Joss tiếp ông. 

- Ồ! Đừng quấy rầy anh ấy. Giờ này ảnh như một con gấu ốm, vả, ảnh không sốt sắng tiếp tôi đâu. Vợ ảnh ra sao? Chắc ảnh đuổi chị ấy đi cho cô thế chỗ chứ gì! Tội nghiệp chị ta quá! Nhưng tướng cô cũng không sống nổi với ảnh quá 10 năm... 

- Muốn gặp bà Joss thì ra vườn, gần chuồng gà đó. Ra cửa, đi lối kia, đừng đi lối này, tôi mới lau hành lang xong, không muốn phải lau lại... 

- Ồ! Đừng vội! Còn chán thì giờ... 

Vẻ lì lợm của kẻ lạ làm Mary tức tối: 

- Này! Ông có muốn gặp ông chủ thì nói? Nếu không, uống xong trả tiền rồi cút xéo. 

Gã trai trẻ lại cười, răng trắng bóng, vẻ quen thuộc nhưng Mary chịu, không nhớ gã là ai. 

- Chao! Cô có vẻ quyền hành dữ! Joss làm sao mà sai khiến cô? Buổi tối cô đuổi chị ấy ra ngoài hay ba người ngủ một giường? 

Mary đỏ mặt, hét: 

- Dì Patience là em ruột mẹ tôi. Tôi là Mary Yellan. Chào ông! Cánh cửa sau lưng kìa! 

Nàng hầm hầm rời quầy ruợu, vào bếp và đụng đầu Joss. Lão quát: 

- Cô nói chuyện với ai? Tôi dặn cô giữ mồm, giữ miệng mà? 

Tiếng lão vang dội tận hành lang, gã trai trẻ cũng la lên: 

- Đừng đánh cô ta. Cô ta làm gãy ống điếu của tôi, không chịu rót rượu cho tôi. Anh dạy cô ta làm như vậy phải không? 

Joss nhíu mày, gạt Mary qua một bên, vào quầy rượu: 

- Ồ! Jean! Chú tới chi đây? Lúc này công việc của tôi xui xẻo lắm, không có tiền mua ngựa của chú đâu. 

Lão đóng sập cửa lại. Mary dùng tạp dề lau mặt. À! Thì ra Jean, em út của chú Joss, vậy mà mình ngốc quá không đoán ra. Mắt giống như Joss nhung tinh anh hơn và không có tia máu, cũng miệng của Joss nhưng cương quyết hơn. Jean đúng là hình ảnh của Joss 20 năm trước, tuy thấp hơn và rắn rỏi hơn. 

Mary tạt nước ra sàn nhà, chà mạnh một cách tức giận. Đúng là dòng họ Merlyn hỗn xược, thô lỗ, vũ phu! Mặc dù thấp hơn anh một cái đầu và gầy, nom anh ta có một sức mạnh mà Joss không thể có. Tuy nhiên, phải nhận rằng hắn cứng cỏi và tế nhị. Rượu chè đã hại đời Joss, nếu khôn ngoan hơn anh, Jean có thể khá... Nhưng chắc gì? Mẹ nàng thường nói: “Khó chống lại với giòng máu bất lương. Khó chống lại với thói quen tội lỗi. Nếu hai thế hệ sống lương thiện thì có thể giòng họ được tẩy rửa tội ác... nhưng vẫn còn là khó lắm”. 

Thật đáng thương: dì Patience bị lôi cuốn vào đời sống của họ Merlyn, dì chỉ hơn tên ngốc Dozmary một bậc thôi! Đáng lẽ dì có một nếp sống an toàn như mọi đàn bà khác tầm thường nhưng có hạnh phúc: có bạn láng giềng, đi nhà thờ vào sáng Chúa nhật, đi chợ mỗi tuần một lần, hái trái và gặt lúa ngày mùa, chăm sóc con cái nhà cửa v.v... 

Dì đã từ bỏ hết để theo một gã đàn ông hung bạo, sống như một tên đầy tớ trung thành xuẩn ngốc... Dì Patience! 

Để khỏi chán nản, Mary vào quét dọn phòng khách, bụi tung mù mịt. Chợt có tiếng sỏi chọi vào cửa sổ và tiếp theo một nắm sỏi làm vỡ cửa kính, nàng dừng tay, nhíu mày nhìn ra: Jean Merlyn đứng bên con ngựa. Giọng nàng chát chúa: 

- Ông muốn gì nữa? 

Jean không có vẻ xấc xược nữa, giọng nhũn nhặn: 

- Xin lỗi cô, tôi thật lỗ mãng. Tôi không ngờ được gặp một người như... cô. Tôi cứ ngỡ là Joss gặp cô ở đâu đó, cô là nữ hoàng của ảnh... 

Mary lại đỏ bừng mặt, giọng khinh bỉ: 

- Tôi giống nữ hoàng ư? Tôi tưởng anh có mắt chớ, áo quần, giày vớ kiểu này đáng ra anh phải biết ngay tôi là một cô gái quê... 

- Ồ! Đừng giỡn! Nếu mà cô mặc áo đẹp, đi giầy cao gót coi, thua gì các tiểu thơ ở thành phố, cả thành phố lớn như Exeter. 

- Hân hạnh cho tôi quá, nhưng tôi chỉ muốn thế này thôi. 

- Dĩ nhiên, nhưng tôi e lại tệ hơn kia. 

Mary ngước mặt lên, nàng biết Jean chế diễu nàng và nàng tức thì quay đi. 

- Hãy khoan, tôi đã xin lỗi cô rồi mà. Tôi ngạc nhiên vì sự có mặt của cô ở đây. Tại sao cô đến đây? 

Từ ngưỡng cửa Mary nhìn Jean, thầm ước: giá Jean không là người trong họ Merlyn!Nàng chậm rãi trả lời: 

- Tôi đến với dì theo lời mẹ tôi trăn trối trước khi mất. Vì dì là người thân duy nhất sau mẹ tôi. Có điều, ông Jean ạ! Tôi mừng mà thấy mẹ tôi đã mất để không thấy đời sống của dì tôi... 

- Tôi cũng lạ về chuyện dì cô. Khi tôi còn nhỏ ảnh đánh tôi hoài. Giờ đây, nếu dám ảnh cũng đánh tôi... 

- Dì tôi say mê cặp mắt của ông ta. Mẹ tôi vẫn bảo là hồi ở Helford dì bay bướm lắm. Dì đã từ chối lời cầu hôn của một trại chủ để rồi... để rồi... 

- Xem ra cô không ưa Joss? 

- Không bao giờ. Đó là một kẻ vũ phu, hung bạo, và còn, còn nhiều chuyện nữa. Ông ta đã biến một người trẻ trung vui tính thành một kẻ nô lệ, khốn khổ. Tôi còn sống, tôi thề không tha lão. 

- Giòng họ Merlyn chưa bao giờ đối xử tốt với vợ. Cha tôi đánh mẹ tôi đến ngất đi vậy mà bà không rời ông, nâng đỡ ông tận khi ông chết. Khi ông bị treo cổ, bà không nói chuyện với người nào cả liền trong ba tháng. Tóc bà bạc trắng. Tôi nghe nói bà nội đã anh dũng chống với lính đến bắt ông tôi. 

Mary im lặng nghe. Giọng bình thản của Jean làm nàng sợ. Nàng đoán rằng trong gia đình Jean không có sự thân ái, khoan hòa. 

- Cô định lưu lại đây bao lâu? Thật đáng tiếc, đây không phải là chỗ của cô... 

- Biết làm sao? Tôi chỉ có thể ra đi với dì tôi. Tôi không sao đành lòng bỏ bà... 

- Nói cho ngay, ở đây khá yên tĩnh. 

- Yên tĩnh? Hôm thứ bảy vừa rồi nhà đầy khách, toàn bọn... có vẻ bất lương... 

- Không có gì lạ. Tụi đến đây toàn là tụi từng sống trong nhà tù. Không biết họ nghĩ sao về cô. Joss dám bán cô lắm đa! Sẽ có một ngày, cô ngồi trên ngựa sau lưng một tên cướp cạn... 

- Muốn vậy, họ phải đánh tôi bất tỉnh đã... 

- Bất tỉnh hay tỉnh thì đàn bà vẫn là đàn bà. Vả lại, tụi bất lương thì cần gì chuyện cô thuận hay không? 

Mary gợi chuyện: 

- Anh sống bằng nghề gì? 

- Tôi ấy à? Tôi ăn trộm ngựa. Nhưng nghề này không khá mấy. Túi tôi rỗng không! Cô đến nhà tôi chơi đi! Tôi có con ngựa hợp với cô lắm. 

- Anh không sợ bị tóm sao? 

- Dễ gì? Ngựa hoang đầy đồng, làm sao phân biệt được? Giả dụ như con ngựa có bờm dài, một chân trắng, một dấu hình thoi ở tai, nó đứng ngay trước mắt chủ nó nhưng đố ông ta nhận ra... 

- Tại sao vậy? 

- Thì bờm nó ngắn đi rồi, bốn chân cùng mầu và dấu hình thoi biến mất tiêu hay chỉ còn là một vệt dài. Đơn giản quá, cô thấy không? Nhưng cô biết đó: tôi không dành dụm được, tiền trôi tuột qua kẽ tay như vốc nước. Tuần trước tôi có 10.000 mà hôm nay còn vỏn vẹn 100. Vì vậy, tôi muốn bán ngựa cho cô. 

Mary khó nhịn cười trước một kẻ bất lương... thật thà, nàng không thấy giận nữa: 

- Tôi không thể lấy tiền dành dụm ít oi mua ngựa được. Tôi cần từng trinh con... 

Đột nhiên, Jean dịch lại gần Mary, anh nhìn quanh trước khi lên tiếng: 

- Nghe đây! Hãy quên những lời trêu chọc của tôi đi. Lữ quán Giao Mai không phải là chỗ dung thân của người lương thiện. Tôi ăn trộm ngựa là vì không biết làm gì ở vùng cằn cỗi này, nhưng tôi không phải táng tận lương tâm. Tôi không như anh Joss. Không có lý nào tôi nỡ để cô bị anh ấy kéo vào tội ác. Trốn đi! Tôi sẽ giúp cô đến Bodmin tìm cách sinh nhai. 

Giọng anh trầm ấm, thành khẩn. Mary gần tin Jean. Song nàng lại nhớ kịp Jean là em ruột chủ quán. Có thể chủ quán cho em dò la nàng? Không! Bây giờ chưa thể tin Jean. Để xem, thời gian sẽ cho nàng biết Jean thuộc phe nào. Bây giờ thì... chưa. 

- Tôi chả cần ai giúp đỡ. Tôi tự liệu thân được. Tôi không phải tiểu thư thành phố. 

Jean không nài nỉ thêm. Anh nhảy phóc lên ngựa: 

- Tốt lắm. Tôi không quì xuống chân cô đâu. Nếu thấy cần đến tôi thì cứ qua khỏi vũng lầy Trewartha, đến chân đồng hoang "12 đàn ông" bên kia ngọn Withy Broo sẽ thấy căn nhà tôi. Tôi còn ở cho đến đầu xuân. Chào cô! 

Chao ơi! Sao Jean không là kẻ ngoài giòng họ Merlyn? Mary đã tin ngay, không do dự. Làm sao tin được em Joss chứ? Hắn chỉ là một tên trộm ngựa, hắn có thể lương thiện chút chút thôi... 

Jean đã nói hắn không ưa Joss nhưng lấy gì làm tin? Cách tốt nhất là phải tự quyết định mọi điều, không tin bất cứ ai. Thành vách của lữ quán này cũng sặc mùi máu và nói ra dự tính của mình là một rồ dại. 

Sự thăm viếng bất ngờ của Jean như một tia nắng chói và khi hắn ra đi, ánh nắng ấm áp như cũng đi theo. Bầu trời xám xịt rồi mây mù bao phủ, những bụi gai đen rạp mình dưới gió. Mary thôi cau có, nàng mệt mỏi và chán nản cùng cực. 

Ngày tháng nối nhau dài vô tận. Mary nghĩ đến Jean: miệng huýt sáo, hai chân thúc vào mình ngựa, đầu trần rong chơi tùy thích... Giá nàng là con trai? 

Nàng lại nghĩ đến Helford: con đường dài dẫn đến đầu làng, đến giòng nước cạn, đến đàn vịt bì bõm trong bùn, vài đàn ông ơi ới gọi bò về... Đời sống thanh thản, êm dịu đó nàng không còn được tham dự nữa. Nàng dính liền nơi đây bởi một lời hứa với mẹ và bây giờ thì bởi một lời thề, bởi thương dì. 

Nàng ngồi bó gối trong phòng khách nhìn mưa làm mờ cửa kính. Những giòng lệ thi nhau chảy dài xuống má nàng, Mary không buồn lau.
__________________________________________________________________ 
Xem tiếp CHƯƠNG V

Thứ Tư, 15 tháng 6, 2016

LỮ QUÁN GIẾT NGƯỜI - CHƯƠNG III

CHƯƠNG III

Mary chợt tỉnh giấc. Gió từ hướng Tây thổi mạnh và nắng yếu ớt chiếu vào phòng. Tiếng cửa gỗ lay động đã đánh thức cô gái. Nhìn mầu trời nàng biết chắc đã hơn tám giờ rồi. Nhìn xuống sân, Mary thấy cửa chuồng ngựa mở rộng và có dấu giày mới in lên bùn. Nàng cảm thấy nhẹ nhõm khi biết chú Joss đã ra ngoài. Mary vội vàng mở rương lấy ra cái váy dày, cái tạp dề mầu và đôi giày gỗ thô mà nàng vẫn thường dùng ở trại. 10 phút kế đó, nàng xuống bếp, rửa mặt phía sau. 

Dì Patience bước ra khỏi vòng rào dành nuôi gà, túm trong tạp dề mấy quả trứng. Dì đưa ra cho Mary thấy: 

- Dì tin là cháu sẽ thích khi có trứng để ăn sáng nay. Chiều qua, dì thấy cháu mệt quá không ăn được gì cả. Dì để dành cho cháu lọ mứt. 

Nom dì tươi tỉnh, mặc dù đôi mắt thâm quầng chứng tỏ đêm qua thao thức lo âu. Mary nghĩ rằng chỉ khi nào có mặt chú Joss dì mình mới sợ sệt như đứa trẻ phạm lỗi. Khi ông ta đi vắng, dì dễ vui vì một điều nhỏ nhặt như luộc cho cháu cái trứng gà! Hai người đều cùng tránh nhắc lại việc đêm qua. Không nhắc đến cả tên Joss nữa, lão đi đâu, làm gì nàng không cần biết, chỉ thấy vui là đủ. 

Mary biết dì không muốn bàn đến việc hiện tại. Bà có vẻ... sợ cháu hỏi. Mary chỉ kể những khó khăn mấy năm sau cùng ở Helford, về cái chết của mẹ. Mary thấy dì có vẻ cố sức mà không thể chú ý đến lời nàng. Những năm dài lo sợ bên cạnh chồng làm bà mất nhiều khả năng cần thiết; có một sự gì khủng khiếp đến nỗi bà trở thành ngớ ngẩn gần như trì độn? 

Suốt sáng đó, Mary phụ dì trong công việc hằng ngày và dạo xem gần hết Lữ quán. 

Ngôi nhà đầy bóng tối với những hành lang dài và những căn phòng kỳ lạ. Có một lối riêng biệt vào quầy rượu ở một bên nhà. Căn phòng tuy trống rỗng nhưng không khí bên trong nặng nề, chứng tỏ có một sự nhộn nhịp vừa qua, không lâu lắm: mùi rượu nồng hăng, hơi người ấm và bẩn trên những dãy ghế đen đủi. Trong toàn lữ quán, có lẽ chỉ phòng này là sống động nhất. 

Các phòng khác hình như bị bỏ quên, không ai lui tới. Phòng khách ở cạnh cổng vào cũng trống vắng như đã nhiều tháng không ai đặt chân vào và sưởi ấm ở lò. Những phòng trên lầu càng tệ hơn, một phòng dùng làm kho. Nhiều thùng chất sát vách, trên phủ mấy tấm da ngựa rách nát vì chuột gặm. Phòng đối diện, khoai tây và củ cải chất đống trên cái giường hư nát. 

Mary đoán rằng phòng nàng trước kia cũng như các phòng này. Giường tủ và bàn chải tóc chắc do dì nàng mới trang hoàng cho cháu. Mary tránh đến gần phòng dì và Joss ở hành lang bên kia. 

Phía dưới gian phòng này, có một hành lang song song với hành lang trên và ở đầu đối diện với gian bếp có một phòng khóa kín. Mary vòng ra sân, nhìn vào cửa sổ nhưng cửa sổ được che kín bằng một tấm ván đóng chặt vào đó nên nàng không thấy được gì. 

Ngôi nhà và các dãy phụ chiếm ba cạnh sân. Giữa là một bồn cỏ và hồ nước. 

Trước mặt, con đường trải dài vô tận, quanh đó là đồng hoang, một mầu nâu sẫm và ướt át vì mưa. Mary đến tận đường cái, quanh tầm mắt nàng chỉ có đồi đen đủi và ao tù. Lữ quán là ngôi nhà duy nhất trong vùng, dù là một ngôi nhà xám chứa đầy bí ẩn và không có gì tỏ ra hiếu khách. 

Phía tây là những ngọn núi đá sừng sựng, vài ngọn có cỏ mọc lưa thưa, dưới ánh nắng yếu ớt của mùa đông cỏ vẫn úa vàng. Nhiều ngọn núi khác chỉ thấy chơm chởm đá. 

Chốc chốc, ánh nắng bị một đám mây che khuất, tạo thành một bóng đen dài trên đồng hoang. Mầu sắc cũng thay đổi: khi thì đồi núi tím thẫm như giây mực, khi thì tia nắng xuyên qua mây làm ngọn đồi trở thành vàng, nâu... Nhiều ngọn khác chìm trong bóng tối. 

Khung cảnh thay đổi liền liền: phía đông ánh nắng ban trưa rực rỡ và đồng hoang xem yên tĩnh như một sa mạc cát trong khi phía tây những ngọn đồi bị chế ngự bởi mùa đông giá buốt, thỉnh thoảng tối sầm do một đám mây... Không khí lạnh và thoang thoảng hương thơm tinh khiết của miền núi. Thật là một sự mới lạ với Mary, vì nàng chỉ quen với khung cảnh êm ả của Helford, với những rào giậu và những cây to che chở cho nên dù vào đông gió cũng không dữ dội. Mũi đất cao che chở cho những người sống dưới bóng nó, chỉ mình dòng sông xanh biếc cuồn cuộn, bọt tung trắng xóa, nom có khi hơi dữ tợn mà thôi. 

Tuy nhiên, giữa hoang vu, man dã, đáng ghét, Mary cảm thấy trong không khí có sự kiêu hùng kỳ lạ, cuốn hút lấy nàng làm nàng như bị thách đố và không thấy muốn lùi. Thốt nhiên, nàng cảm thấy thích thú ưa mạo hiểm, thấy hăng hái trong lòng. Má nóng bừng, mắt ngời sáng, tóc tung bay trong gió lộng, Mary thu hồi được nghị lực, niềm tin một cách bất ngờ. 

Mary thở mạnh, hít không khí ngọt ngào mát mẻ tinh khiết vào hai buồng phổi. Nàng đến bên hồ, mở vòi và ngâm hai tay xuống nước. Nước lạnh rợi, trong veo. Nàng vốc một ngụm đưa lên uống. Tuy nước ở đây khác xa nước nàng đã uống trong bếp, một vị chan chát quyện trong lưỡi, nàng thấy thích thú và đã khát ngay. 

Mary như được bồi bổ cả thể xác lẫn tinh thần. Nàng cảm thấy đói và nghĩ đến dì. 

Mary ăn món thịt trừu hầm củ cải một cách ngon lành. Lần thứ nhất, sau 24 giờ chịu đựng Mary cảm thấy phấn khởi, bình tĩnh, can đảm. Mary gợi chuyện: 

- Dì ơi, tại sao chú Joss lại làm chủ Lữ quán Giao Mai? 

Sự tấn công bất ngờ và thẳng thắn của cô cháu làm dì lúng túng. Bà cắn môi, đỏ mặt giây lâu mới trả lời, ấp úng: 

- Thì...con thấy đó: nơi này thuận tiện quá, quốc lộ chính từ Bắc đến Nam. Xe qua lại hai bận trong tuần. Họ đi từ Bodmin, Truno đến Launceston. Cũng như con đi hôm qua vậy mà... Họ du lịch, làm ăn, buôn bán... 

- Đúng thế, nhưng tại sao họ không ghé Lữ quán Giao Mai? 

- Họ dừng lại chớ! Họ đến quầy rượu để giải khát. Chúng ta có đông khách hàng... 

- Sao dì có thể nói thế được? Phòng khách bỏ trống, phòng ngủ dùng làm kho, chứa đầy chuột... kia mà! Cháu thấy tận mắt, cháu đã nghỉ ở lữ quán nhỏ hơn đây. Trong làng cháu cũng có một cái. Mẹ cháu bạn với bà chủ, cháu có đến một lần. Trên lầu có hai phòng nhưng được trang hoàng tử tế cho khách. 

Dì Patience im lặng giây lâu, lại cắn môi: 

- Chú Joss không thích ai ở lại. Chú ghét ồn ào, vả lại ở một nơi vắng vẻ như chỗ này có thể nguy hiểm cho mình... 

- Cháu không tin. Ghét ồn ào mà lại mở Lữ quán? Sợ nguy hiểm mà lại chọn một nơi vắng vẻ để làm ăn? Mà mở lữ quán để làm gì nếu không cho khách lương thiện ghé qua đêm? Dì nên thành thật với cháu: Lữ quán này được mở với mục đích gì? Và làm sao dì chú sống được nếu không tiếp khách? 

- Dì đã nói rồi, chúng ta có khách hàng mà! (Giọng dì nóng nảy) Nhiều bữa, quầy rượu chật khách... 

- Hôm qua, bác phu xe nói với cháu là những người tự trọng không hề ghé lại đây. Họ sợ! 

Mary gằn từng tiếng. 

Dì Patience tái mặt, mắt dì lộ vẻ hốt hoảng, dì nuốt nước bọt, thì thào: 

- Chú Joss nóng như lửa, cháu thấy đó, chú không muốn ai xen vô chuyện riêng. 

- Nhưng thưa dì, ai dòm ngó chi công việc của một ông chủ quán lương thiện? Dù cho chú nóng tính, đâu đến nỗi người ta phải chạy trốn? Đây không phải là lý do chính đáng. 

Dì không cãi được. Mary tìm cách khác khơi chuyện: 

- Tại sao dì đến đây? Mẹ con vẫn ngỡ là dì ở Bodmin... 

- Dì gặp chú ở Bodmin nhưng không ở đó. Chú mua Lữ quán này của ông Bassat. Quán bỏ trống nhiều năm về trước, chú con muốn ở đây cho tới già, tới chết. Hồi xưa, ổng đi đây đó dữ lắm. Qua tận Mỹ châu cơ. 

- Chú chọn nơi hoang vu này để dưỡng già, kể cũng... lạ. 

- Đây là nơi sinh trưởng của chú đấy chớ, cách đây vài dặm thôi. Em trai chú, thằng Jean vẫn ở trong căn nhà của tổ phụ. Lâu lâu, nó có đến đây, nhưng... chú Joss không ưa em Jean của chú. 

- Ông Bassat có đến đây không, thưa dì? 

- Không. 

- Sao vậy dì? 

- Có sự hiểu lầm. Chú mua ngôi nhà này qua sự trung gian của người bạn. Ông Bassat chỉ biết chủ mới là chú khi chú dọn về đây. Ông ấy không bằng lòng. 

- Can gì đến ông ấy? Bán thì người ta mua chứ? 

- Xưa kia lúc còn ở Trewartha, nghĩa là lúc trẻ, chú con nổi tiếng hung tợn. Không phải lỗi ông, dòng họ Merlyn toàn man rợ thế cả. Thằng Jean còn tệ hơn chú nhiều. Nhưng ông Bassat nghe lời thiên hạ thêm thắt nên ghét chú con. Ông tức giận khi biết chú con mua Lữ quán của ông. Chỉ có thế thôi, con ạ! 

Dì tựa lưng vào ghế, có vẻ mệt nhọc vì bị chất vấn. Mắt bà như van lơn cháu đừng cật vấn chi thêm. Nhưng Mary lạnh lùng tìm hiểu: 

- Dì ơi! Dì hãy nói thật cho cháu biết, hãy nhìn cháu đây: căn phòng bí mật ở đầu hành lang có liên lạc gì với những xe cộ dừng lại ban đêm không? 

Trễ quá rồi: Mary chợt hối nhưng đã muộn. Dì nàng xanh ngắt, môi run rẩy, mắt lạc thần, bà đưa hai tay che cổ, sợ hãi tột cùng. Mary quì xuống cạnh dì, tay quàng lấy cổ dì, ôm chặt bà và hôn lên tóc bà. Nàng run rẩy: 

- Dì tha lỗi cho con! Con vụng về và quá tò mò. Con xấu hổ lắm, xin dì quên những gì con vừa hỏi. 

Dì Patience im lặng, tay ôm lấy mặt. Mary vuốt ve và hôn tay dì. Rồi bà bỏ tay che mặt ra, mắt bớt vẻ kinh hoàng, bà nắm tay cháu, thều thào: 

- Mary, di không che giấu cháu, nhưng sự thật có nhiều điều dì cũng không biết hết... Nhưng vì cháu là cháu dì, con của người chị yêu quí, dì phải báo trước cho cháu biết... 

Bà nhìn nhớn nhác như sợ Joss hiện ra bất ngờ siết cổ mình: 

- Có những điều xảy ra tại đây mà dì không bao giờ dám nghĩ đến hay nói đến. Những chuyện đáng sợ: chú Joss liên lạc với nhiều người kỳ lạ và lối mua bán cũng rất lạ. Có đêm, họ đến đây. Từ cửa sổ phòng con trên cổng chính con có thể nghe họ gõ cửa. Chú con sẽ mở cửa và đưa họ đi dọc theo hành lang đến căn phòng bí mật. Họ trò chuyện rất lâu và rút lui trước khi trời sáng. Mary! Khi họ đến, con nhớ cứ nằm yên, lấy gối bịt tai lại. Nếu con hỏi đến chuyện họ, con biết được một nửa câu chuyện của họ, tóc con sẽ bạc như dì đây. Con sẽ không ráo lệ mỗi đêm và run giọng khi cất tiếng. Tuổi trẻ và sự vô tư của con sẽ biến mất như dì vậy. Đừng quên lời dì... 

Dì đứng lên, xô ghế ra. Mary nghe tiếng chân dì lên thang một cách uể oải, mệt nhọc và dì nằm lỳ suốt buổi trong phòng. 

Mary ngồi bên cạnh chiếc ghế không. Xuyên qua khung cửa kính, ánh mặt trời tắt sau ngọn đồi xa nhất và mầu xám của trời đông lại bao phủ khắp Lữ quán Giao Mai.

*


Joss vắng mặt cả tuần, Mary có dịp dạo khắp vùng. Nàng chả bận rộn gì nhiều ngoài việc giúp dì làm bếp và lau dọn trong nhà. Nàng rong chơi tự do, sau bữa ăn trưa. Dì nàng thì không rời khỏi khuôn viên nhà bếp và chuồng gà. Bà không ưa đi dạo. 

Mary được mặt trời hướng dẫn và nhờ sự hiểu biết thông thường của một nông dân, nên rất vững lòng. Đồng hoang còn man rợ hơn Mary tưởng: rộng như sa mạc, nó chạy dài từ đông sang tây. Vài ngọn đồi cao hiện ra ở chân trời. Nàng không biết giới hạn của nó ra sao, cho đến một ngày nọ nàng đi về hướng tây, leo qua núi đá cao nhất sau lữ quán nàng chợt thấy biển cả lấp lánh dưới nắng. Nhưng đây là một vùng yên lặng, vắng vẻ đến rợn người. Trên núi, những khối đá tựa vào nhau tạo nên những hình thù quái dị, nom như những tên lính do Thượng Đế cắt đặt đứng canh tại đó. Vài khối đá khác trông như một bộ bàn ghế, cũng có những khối khác nhỏ hơn, nom hiền lành như một gã khổng lồ nằm che hết các bụi gai. Có phiến phẳng, có phiến dài, có phiến nhẵn như mặt bàn thờ, ngửa mặt chờ cuộc tế. Những đàn trừu hoang sống tại núi đá và quạ, và diều hâu. Đồi là tổ ấm của những sinh vật cô đơn. Đàn bò ăn cỏ trên đồng hoang, tìm đất cứng mà đến, chúng tránh những đám cỏ ngon lành nhưng thật ra không phải là một bãi cỏ mà là một vũng lầy đáng sợ. 

Khi gió nổi lên, có tiếng ngân vang như tiếng hú trong các hốc đá, khi lại rên rỉ bi ai. Mary không biết gió từ hướng nào ào đến, nó trườn đi như một con vật vô hình trên mặt cỏ và cỏ rung động; nó lướt trên những vũng nước mưa đọng trong hốc đá, nước gợn sóng lên... 

Trên những phiến đá, sự im lặng ngự trị, im lặng kỳ bí mênh mông. Như là sự im lặng của một kỷ nguyên khác, thời chưa có vết chân người trên quả đất. Sự yên tĩnh lạ lùng, đe dọa, không phải là sự yên tĩnh được vây bọc trong tình thương và sự chở che của Chúa. 

Mary băng qua đồng, leo lên núi đá, ngồi nghỉ trong một hốc đá, cạnh nguồn nước; lòng hồi hộp nàng nghĩ đến thời thơ ấu của Joss Merlyn, đến đóa hoa dại bị gió dữ cuốn đi trên bụi gai cằn cỗi. 

Hôm khác, nàng lại băng đồng qua hướng đông, đến một ngọn đồi bao bọc bởi đồng hoang, không được khai khẩn. Đồng hoang này lại xuôi xuống một đầm lầy to, sâu, giữa có một giòng suối con, tiếng suối reo róc rách. 

Bên kia đầm lầy là một khối đá sừng sững. Người ta có cảm tưởng như bàn tay xuất hiện từ dưới đầm lầy, đưa mấy ngón lên trời, bề mặt như được đẽo trong đá hoa cương, mầu xám buồn buồn. Đó là ngọn Kilmar – Tor. Joss Merlyn đã sinh ra tại núi đá này và Matthew, em ông đã chết đuối trong đầm kia. Nàng tưởng tượng đến một gã trai trẻ băng qua đồng, miệng huýt sáo vui vẻ, bên tai có nhạc suối phụ họa... Rồi, trời tối sập quá nhanh làm anh ta không kịp đề phòng... Anh ta dừng lại, do dự một giây rồi chặc lưỡi bước tràn, được mươi bước thì anh ta bị lún xuống, bùn ngập gối, anh ta vừa chửi thề vừa cố sức rút chân lên nhưng quá muộn: càng phút càng bị lún sâu hơn, anh quờ quạng bíu vào một đám cỏ, nhưng vô ích. Anh thét lên thất thanh, một con quạ đen bay ngang đầu anh, là là trước mặt anh kêu lên ai oán... 

Rồi nó vỗ cánh dồn dập, bay xa trong khoảnh khắc. Vài ngọn cỏ lay động và yên tĩnh lại bao trùm cảnh vật... 

Mary quay lưng về phía Kilmar. Nàng chạy tràn qua khỏi đồng, vấp lên, ngã xuống giữa đám cỏ gai và đá rắn. Nàng chỉ ngừng lại để thở khi vũng lầy mất hút sau đồi. Chao! Nàng đã đi xa hơn nàng muốn. Đường về dài dằng dặc. Mary thực sự vững tâm khi thấy ống khói của Lữ quán sừng sững ngang tầm mắt. Và nàng hồi hộp khi thấy chuồng ngựa mở toang, ngựa đứng bên trong. Ông ta đã về! 

Mary se sẽ mở cửa nhưng cánh cửa cọ vào sàn gạch kêu lên. Joss hiện ra ở đầu hành lang, tay áo xắn cao, tay cầm chiếc ly và cái khăn. Hình như Joss đang vui? Mary thấy ông ta cầm ly vẫy nàng, giọng ồn ào: 

- Ủa? Thấy tôi mà cô không chạy trốn ư? Cô có nhớ chú Joss không? 

Mary cố mỉm cười chào ông ta và hỏi cuộc du hành của ông có tốt đẹp chăng. 

- Tốt đẹp khỉ khô! Tôi chỉ cần kiếm tiền thôi. Nếu cô muốn biết, tôi trả lời đây: tôi có vào cung điện thăm Đức Vua! 

Đắc ý về câu pha trò của mình, ông ta cười khanh khách. Patience hiện ra phía sau ông, bà cũng mỉm cười, song nụ cười của bà tắt tức thì khi chồng bà ngừng lại. Mary nhận thấy dì mình đã trở về với nỗi lo sợ thường xuyên. Nàng lặng lẽ toan rút lui thì Joss gọi giật nàng lại: 

- Nghe đây! Chiều nay đừng có trốn trên đó. Có việc làm ở quầy rượu, nghe chưa? Cô biết hôm nay thứ mấy không? 

Mary chưa mất ý thức về thời gian: nàng đến đây hôm thứ hai, vậy hôm nay là thứ bảy. Nàng hiểu chú Joss muốn bảo gì. Sẽ có khách đến Lữ quán Giao Mai.

*


Họ đến từng người một. Họ băng qua sân, yên lặng và rất nhanh như không muốn ai trông thấy, tuy họ đi trong bóng tối. Họ đi dọc bờ thành đến bên cổng gỗ gõ cửa và được đưa vào quầy rượu. 

Có người mang theo đèn lồng nhưng ánh sáng như làm phiền họ nên họ lấy áo khoác che lại. Vài người đi ngựa, vó ngựa khua đều trong đêm phá tan bầu không khí yên tĩnh của Lữ quán Giao Mai. Kế đó, có tiếng mở cửa chuồng ngựa và tiếng trò truyện thì thào. Có người mũ che khuất mặt, áo choàng cao kín cằm. Họ có vẻ mờ ám, bí mật. 

Trong Lữ quán đèn sáng rực rọi qua các cửa sổ mở rộng. Thường, cửa sổ đóng kín mít. Càng về khuya, sự huyên náo càng tăng. Có tiếng cười, tiếng hát, tiếng hò hét. Điều đó chứng tỏ rằng họ đã qua sự dè dặt lúc chưa đặt chân vào bên trong. Vào đến quầy rượu, ngồi giữa bạn bè, miệng phì phào thuốc lá, tay bưng cốc rượu tràn sóng sánh, họ thôi thận trọng. 

Đám người tụ họp quanh Joss thật kỳ lạ. Mary đứng trong quầy, khuất sau hàng chai và ly nên nàng dễ quan sát họ mà họ không ngờ. Họ ngồi dạng chân trên ghế hay vắt vẻo trên băng; người dựa vào tường, người thì bách bộ loanh quanh, vài người lại nằm xoài ra đất. Hầu hết họ đều bẩn thỉu, quần áo rách nát, tóc rối bù, móng tay cáu ghét. Đúng là bọn tha phương cầu thực, đầu trộm đuôi cướp. 

Trong số, có một lão trại chủ phải bán nông trại không phải vì không khai thác nổi mà vì nổi tiếng lưu manh; một gã chăn cừu đã nổi lửa đốt máy xay của chủ, một tên buôn ngựa bị đuổi khỏi vùng Devon. Một tên khác làm thợ giày ở Launceston, nhưng thực sự, chuyên tiêu thụ đồ ăn trộm. Một gã khác, vốn là phó thuyền trưởng nhưng lại đánh đắm tàu. Một tên nhỏ thó đang gặm móng tay, làm nghề đánh cá, nghe đâu có cả một chiếc vớ đầy vàng cất kỹ trong ống khói, không biết do đâu? Vài tên ở các vùng lân cận, kẻ từ xa. Một gã nom đần độn, và gã nữa có một vệt đỏ bầm trên mặt, suốt từ khi vào nhà, gã không ngừng nắm vệt đó giật giật liên hồi làm Mary phát nôn, muốn ngất đi. 

Cảm giác này, cộng chung với khói thuốc, mùi rượu, hơi người bẩn nằm ngồi la liệt làm cô càng khó thở. Được cái, nàng không phải đến cạnh họ, nàng chỉ rửa ly và rót đầy rượu, nàng đứng khuất sau quầy, cố thu mình càng kín càng hay. Joss thân bưng rượu cho khách hàng, lão đi khắp phòng, cười với tên này, pha trò với gã nọ, vỗ vai hay ra dấu với kẻ kia. Thoạt thấy Mary, có tên cười ngất hay nhìn cô bằng con mắt xoi bói, tên thì rùng vai, nhếch mép, và trong thoáng chốc chúng quên mất cô gái, coi nàng là một cô cháu vợ của Joss, đến giúp việc như đã được nghe giới thiệu. Bọn trai tráng có vẻ muốn trò chuyện với cô song lại sợ tia mắt của Joss, sợ lão nổi giận bất ngờ chăng. 

Mary thấy nhẹ nhõm vì được yên thân. Nàng sẽ xấu hổ, nhục nhã nếu biết được ý nghĩ bọn này. Dì nàng không ra mặt, song Mary thấy bóng dì sau cửa, một lần nàng bắt gặp tia nhìn sợ sệt của dì. 

Đêm như vô tận, bóng người trước mặt Mary lờ mờ, có một lúc bọn họ như nhăn nhó, miệng rộng, tóc bù xù, răng trắng nhởn làm nàng khiếp đảm. Họ uống đến nỗi nằm lăn xuống đất, sùi bọt mép. Bọn còn lại tụ tập quanh một gã cục mịch ở Redruth, nhỏ nhắn bẩn thỉu. Lão hát nhiều bài hát tục tĩu để làm vui cả bọn. Tiếng cười như muốn rung cả mái nhà song được hãm lại trước vẻ hầm hầm của Joss. 

Mary thấy có sự bất thường, man rợ trong những tiếng cười đó, nó từa tựa như tiếng con vật lạ rống lên giữa vách đá tối om. Tên bán hàng rong đem gã đần ở Dozmary ra làm hề, gã say khướt, chúng đặt gã lên bàn, bắt gã lặp lại bài hát giữa trận cười quái ác. Gã đàn ông được tán thưởng, giật giật vết bầm trên mặt kêu lên ăng ẳng, dễ sợ. 

Mary nói với chú Joss: 

- Tôi chịu hết nổi, chú cho tôi ra khỏi đây. Chú lo cho họ được rồi. 

Joss lấy tay gạt mồ hôi trán, trừng mắt – lão vẫn tỉnh táo, dù uống liên miên – nhìn cô gái: 

- Chịu không nổi hả? Cô là thứ gì chớ? Công chúa hả? Nghe đây: mày mà được yên ổn sau quầy như thế, mày phải quì lạy tao mới phải. Nếu mày không là cháu vợ tao thì... hà hà... giờ này mày rách như miếng giẻ rồi, con ngốc ạ! 

Lão cười hô hố, lấy tay bẹo má cô gái: 

- Thôi cho de. Cũng gần nửa đêm rồi, ta không cần mày nữa. Nhớ khóa cửa kỹ, dì cô còn trùm kín đầu nữa kia. 

Lão hạ giọng xuống, cúi gần tai Mary rồi nắm tay cô bẻ quặt ra sau làm cô gái đau nhói, kêu lên một tiếng. 

- Tốt! Đó là cách cảnh cáo để mày nhớ giữ mình, câm miệng thì sẽ yên thân. 

Lão thôi cười, nhíu mày quan sát cô như đọc được tất cả ý nghĩ cô: 

- Cô không trì độn như dì cô, đây là một điều tai hại. Cô có vẻ thông minh và tò mò, khó làm cho cô sợ. Nhưng mà... óc tò mò của cô có thể bóp bẹp như bánh đa. Thôi! Đi đi kẻo ta ngứa mắt. 

Lão quay lưng lại, vì sự khinh bỉ của Mary lộ rõ trong mắt cô làm lão điên tiết lên, lão vứt cái ly trong tay xuống đất, thét to: 

- Lột quần áo thằng ngốc ra, cho nó về với mẹ nó! Trời tháng 11 sẽ làm nó mát mẻ. Ta hết muốn thấy trò nhạt nhẽo của nó rồi! 

Tên hàng rong và cả bọn đè nghiến tên ngốc xuống, làm theo lời Joss trong lúc tên này hoảng sợ kêu rống lên. 

Mary chạy bay ra khỏi đó, lên phòng, hai tay bịt tai lại mà tiếng cười man rợ, khả ố vẫn dội vang trong hành lang lạnh lẽo đến tai nàng. Mary buồn nôn dữ dội, nằm xoãi xuống giường. 

Có tiếng cười ồn ào dưới sân rồi một tia sáng từ cái đèn lồng rọi ngay cửa sổ. Mary đến kéo cửa sổ lại và nàng thấy một bóng đen lõa lồ run rẩy đang rên rỉ. Sau lưng, một đám người đuổi theo hò hét do Joss dẫn đầu, tay cầm roi vụt vun vút. Mary thay áo vội vàng và chui vào giường, trùm chăn kín bưng. Dù nhắm mắt, bưng tai, Mary vẫn thấy khuôn mặt bầm tím của tên ngốc đáng thương, vẫn nghe tiếng gào yếu ớt của gã khi trợt chân rơi xuống hố. 

Cô gái bàng hoàng, nủa thức, nửa ngủ. Nhiều hình ảnh loạn xạ nhảy múa trong đầu nàng. Có lúc cô như lạc giữa đồng hoang, song lại vẫn tỉnh táo mà thấy ánh trăng xuyên qua cửa sổ. Tiếng cười nói xa dần và tắt hẳn cùng với tiếng vó ngựa, tiếng bánh xe. Nàng thiếp ngủ. 

Đột nhiên, Mary choàng tỉnh: có tiếng động, càng lúc càng rõ hơn, song khi nàng vùng dậy thì chỉ nghe tiếng tim mình đập rộn trong lồng ngực. Rồi có tiếng vật gì đang bị kéo lê sềnh sệch dước sàn nhà. Nàng khẽ kéo cửa sổ nhìn xuống sân, năm cái xe ngựa cả thẩy, ba có cái mui che kín, hai cái để trần, ngay trước cổng. Ngựa thở phì phò ra khói. 

Bọn đàn ông tụ tập quanh xe. Lão thợ giày đứng ngay cửa sổ nàng nói chuyện với tên lái ngựa. Một tên vuốt ve bờm ngựa. Một gã khác nhẩy lên xe, cố sức đỡ một vật nặng. Tuy chưa quen biết, nhờ ánh trăng nàng nhận rõ mặt từng tên. Họ có vẻ nôn nả vì trăng sáng quá. Những vật nặng được kéo lê một cách hối hả, dọc theo hành lang đến cái phòng các cửa đều đóng kín bí mật. Mary chợt hiểu: những kiện hàng xe chở đến được khuân vào đó. Căn cứ vào sự nhọc mệt của ngựa Mary biết chúng đã tải đồ từ xa đến. Còn một xe có mui không đưa hàng vào quán mà lại chuyển sang xe khác, hàng đủ cỡ: kiện to, kiện nhỏ, kiện tròn, kiện dài được bọc kín trong rơm hay giấy. Gã phu xe nhảy phóc lên ngựa, ra roi chạy liền khi chất đầy hàng. Mary ngạc nhiên thấy lúc nãy thì họ ầm ỹ, náo loạn mà giờ thì chăm chỉ yên lặng. Ngay cả ngựa cũng thế. 

Joss Merlyn đi cạnh tên bán hàng rong, không mũ, không áo choàng dù trời lạnh buốt, tay áo xắn cao. Joss cất tiếng trầm trầm: 

- Mọi việc êm xuôi chứ? 

Tên phu xe gật đầu, giơ tay vẫy. Cả bọn lục tục rời Lữ quán, sau khi chia nhau những gói hàng đủ loại. Một tên chất lên ngựa cả khối hàng hóa mà còn mang kè kè một bọc lớn bên mình. Xe và ngựa rẽ theo nhiều hướng, mất dạng trong giây lát. 

Trong sân, chỉ còn lại ba người: Joss, một tên lạ mặt và gã hàng rong. Họ cùng vào quầy rượu và đóng sập cửa lại. Mary chỉ còn nghe tiếng đồng hồ tích tắc từ hành lang. Ba tiếng boong boong buông rời rạc. Mary nghe gây gấy rét, nàng quàng khăn lên vai, không tài nào ngủ được. Vừa sợ hãi lại vừa tò mò: nàng thoáng hiểu là Joss ở trong một tổ chức buôn lậu lớn. Lữ quán Giao Mai quả ở vào một vị trí thuận tiện, Joss mua nó chắc vì lý do này. Lữ quán sừng sững, cô độc trên quốc lộ từ Bắc vào Nam. Thật dễ dàng cho một tên gan dạ có óc tổ chức, điều khiển những chuyến hàng từ bờ bể đến phụ lưu sông Tamar, lữ quán là chỗ nghỉ chân và chất chứa hàng lậu. Joss đã dùng đủ mọi hạng người: bọn du mục, bọn hàng rong, thủy thủ... 

Có bản lĩnh, đủ hung bạo làm cho bọn thủ hạ tuân theo răm rắp, Joss có đủ thông minh để che mắt chính quyền chăng? Joss là thủ lãnh chăng? Chắc chắn thế. Mary thầm nghĩ, nếu không, bọn thô lỗ kia làm thế nào qua mặt được pháp luật? Nếu một quan tòa quan tâm đến bọn buôn lậu, chắc ông ta không thể quên Lữ quán Giao Mai. 

Mary cau mày, cắn môi suy tính, nếu không vì dì nàng, nàng tức khắc rời Lữ quán để đi tố cáo Joss ngay. Song dì nàng trung thành với chồng quá đỗi làm cho cô gái thấy khó xử thêm. Nàng nhớ giọng nói sợ sệt, ánh mắt kinh hoàng của dì. Buôn lậu là một điều phi pháp nhưng có đến nỗi làm dì sợ đến mức đó chăng? Hay còn gì mờ ám hơn? 

Mary thấy cần có sự khuyên bảo, nhưng biết nhờ ai? Nàng chỉ là một cô gái. Giá là trai, sẽ dễ dàng biết bao. Nàng sẽ cướp một con ngựa chở dì trên yên phi nước đại trở về Helford, quên mọi sự, hay nàng sẽ đánh nhau với chúng một trận và... sẽ thắng, hoặc nàng sẽ đi tố cáo ở một nơi gần nhất... 

Cô gái 21 tuổi ngồi thừ, không có khí giới nào khác hơn là bộ óc. Cô biết nếu lão mà hay những ý định trong đầu cô, lão sẽ bóp nát cô ngay, không do dự. Mary đã thề rằng nàng không bao giờ sợ hãi hay là tỏ ra sợ hãi trước Joss hay bất cứ ai. Nàng chỉ sợ một lần trong đời: khi con bò điên đuổi nàng ỏ Manaccan thôi. Ý nghĩ đó làm Mary bình tĩnh, nàng sẽ sàng thay quần áo, mang vớ nhưng không mang giày. Nàng lướt ra hành lang, nắm tay vịn cầu thang, bước xuống. Tiếng đồng hồ giúp nàng can đảm lên. Cửa quầy rượu được mở và có tiếng người vào bếp, tiếng nói chuyện thì thào, ánh sáng xuyên qua hành lang sâu hun hút. Nàng toan quày lên, nhưng sự tò mò thắng ý định ấy. Nàng đi dọc theo hành lang, nép sát vách. Nàng đã thấy rõ sự bừa bãi bên trong quầy rượu: ly cốc ngổn ngang, cả mảnh vỡ do Joss đập ly ban nãy. Mary không thấy họ ngồi đâu. Im lặng rất lâu.

Thốt nhiên có giọng cất lên, át tiếng tim nàng đang dồn dập: 

- Không! Merlyn! Anh đừng hòng biến tôi thành quỉ dữ. Tôi thề chấm dứt liên lạc với anh từ hôm nay. Anh bảo tôi nhúng tay vào tội ác tày trời. Đừng hòng! 

Giọng gã đàn ông cao lên nhưng run rẩy, hình như gã mất hết tự chủ rồi. Joss Merlyn nói nhỏ hơn, nàng không nghe gì nhưng tiếng cười khả ố của tên bán hàng rong thì không sao quên được. Người đàn ông đợi tiếng cười thô bỉ kia dứt rồi cất tiếng: 

- Treo cổ? Tôi sợ gì cái đó? Đời tôi chả còn nghĩa lý gì. Nhưng lương tâm tôi còn và tôi sợ Thượng Đế toàn năng. Tôi có thể giết địch thủ trong một cuộc chiến đấu rồi nhận hình phạt, nhưng giết người vô tội, nhất là giết đàn bà con trẻ thì khác nào đi thẳng địa ngục? 

Có tiếng xô ghế, tiếng đập thình xuống bàn, tiếng chửi thề. Lần này, Joss la lên: 

- Đâu dễ vậy! Bồ? Đừng giỡn mặt với tôi chớ! Anh dính chặt vào vụ này mà. Vứt mẹ cái lương tâm của anh đi. Không lùi được đâu, trễ quá rồi. Thật tôi đoán không sai: từ đầu tôi đã ngờ cái bộ vó trưởng giả, lương thiện của anh. Mà thôi... 

Joss đổi giọng, ra lệnh cho tên hàng rong: 

- Harry! Đóng cửa, gài then cẩn thận đi nào! 

Có tiếng đấm đá, tiếng bàn ghế gãy đổ. Cửa đóng sầm một tiếng và giọng cười khả ố của Harry làm Mary dựng tóc gáy: 

- Bây giờ ta cù hắn như tên Sam lúc nãy nghe? Cũng tội nghiệp nếu ta lột áo quần hắn, nhưng biết làm sao? Hắn tự chuốc vạ vào thân mà! Tôi được lãnh cái đồng hồ tay hắn chứ, anh Joss? 

- Câm mồm lại. Hãy làm những gì ta bảo: đứng yên chỗ cửa kính kia và đâm thẳng vào tim nó nếu nó tính trốn (giọng Joss chế giễu). Thưa ông thư ký hành chánh, sao ông điên bất ngờ thế, hở? Ông tưởng đây là thành phố Truno ư? Ông muốn gì? Muốn quất ngựa đi thẳng về Bodmin rồi sáng mai dẫn quan tòa và nửa tiểu đội lính đến vây lữ quán Giao Mai, hử? 

Người đàn ông thở hổn hển – ông ta bị thương chăng? – tiếng ông ta đứt quãng: 

- Hãy hoàn thành tội ác của các anh... ngay đi, nếu các anh muốn thế! Phần tôi, tôi thề không tố cáo các anh và cũng không ngăn cản, nhưng tôi không hợp tác với các anh được nữa. 

Im lặng. Rồi Merlyn cười khẩy: 

- Coi chừng! Đã có kẻ nói hệt giọng anh và chỉ 5 phút sau hắn được treo cách mặt đất cỡ hơn tấc rưỡi. Tôi có hỏi hắn gần mặt đất như thế hắn vừa lòng chưa, vì hắn là nông dân không ưa xa rời đất. Tiếc thay: hắn hết trả lời được, tuy rằng phải mất đến 7 phút và phần tư giây hắn mới ngừng thở. 

Mary nghẹn thở, tay chân như đeo chì, nàng sợ mình sẽ ngất đi, vội vàng lần bước dọc theo hành lang. Không, nàng không thể ngất nơi này, lộ mất. Hai gối run rẩy như chực khuỵu xuống. Đâu nàng choáng váng, nhưng tai vẫn nghe giọng Joss: 

- Harry, về đi! Để mình ta xử tội gã này. Mày hết việc rồi. Lấy ngựa của nó mà chuồn ngay, rồi thả ngựa bên vùng Camelford. Ta trị tội nó được! 

Lần đến phòng khách, Mary quị xuống ngất đi, nhưng rồi nàng tỉnh lại rất mau. Nàng chống tay ngồi lên, lắng nghe tiếng ngựa, tiếng chửi thề và cả hai thứ tiếng xa dần trong bóng tối. Nàng không biết làm cách gì cứu nạn nhân: có thể đến Dozmary kêu cứu chăng? Khi nàng trở về, ông ta đã tắt thở rồi. Mà chắc gì nàng cầu cứu được? Có thể dân vùng lân cận đây đều là thuộc hạ của Merlyn. Dì Patience ư? Vô ích. Cầu trời cho người lạ chỉ còn tự cứu bằng cách nhận lời hợp tác với quân gian bằng không, phải đánh nhau với chủ quán dù ông ta chắc cầm cái bại trong tay. Mary không có khẩu súng hay con dao, nếu làm cho Joss bị thương để cứu được người lạ, nàng không do dự... nhưng... 

Mary định quay lại bỗng nàng nghe có tiếng động khẽ, rồi sàn lầu kêu răng rắc. Bước chân sẽ sàng tiếp tục. Ai? Dì nàng thì nhất định là chết khiếp trong phòng, tên Harry đã đi xa, Joss đang thi hành tội ác trong kia. Trí óc Mary làm việc dữ: kẻ kia đột nhập vào đây từ bao giờ? Kẻ thù hay bạn của Joss? Kẻ lạ mặt chắc không muốn chạm trán cùng bọn buôn lậu? Có thể, ông ta sẽ giúp nạn nhân? Tia hy vọng lóe sáng trong tim cô gái... đồng thời cửa quầy rượu bật mở làm Mary hốt hoảng lùi vào nấp sau cửa. Sàn nhà kêu lên răng rắc rồi, chao ơi! Tim Mary nhói lên: hai người tiến lại nhau, qua khe cửa, Mary thấy rõ ràng kẻ bí mật đặt tay lên vai Joss: 

- Thế nào? 

- Tùy anh quyết định chứ không phải tôi. Anh chỉ việc bảo tôi... 

Khuất sau cửa, Mary không thể nhìn thấy mà cũng không nghe gì, vì kẻ lạ trước khi lên tiếng đã kéo tuột Joss vào quầy rượu. Có tiếng của đóng rồi lặng lẽ trở lại. 

Hình như có một lúc nàng nghe tiếng kêu yếu ớt thoảng vào tai. Tiếng kêu cứu của nạn nhân? Rồi như có tiếng chân ra cổng chính. Đánh bạo, cô gái lại sát cửa quầy rượu áp tai nghe ngóng: bóng tối và sự im lặng phủ tràn. Không, chả còn ai bên trong cả. Nàng đẩy cửa bước vào, trống trơn. Không khí lạnh rợi làm nàng tỉnh táo. Sự khủng khiếp đã qua rồi. Ánh trăng làm nàng thấy rõ có một vật lay động dài ngoằng đong đưa từ trần nhà. Thoạt đầu, Mary nghĩ đến một con rắn buông mình xuống, nhưng định thần nhìn kỹ: một sợi dây! Cô gái rợn người vì khiếp đảm.
__________________________________________________________________ 
Xem tiếp CHƯƠNG IV

LỮ QUÁN GIẾT NGƯỜI - CHƯƠNG II

CHƯƠNG II

Ðó là một người đàn ông khoảng trung niên, to lớn, cao hơn hai thước. Trán nhăn nheo, da nâu sậm như dân du mục, tóc dày, đen lòa xòa trước trán và dài đến tận tai. Ðôi vai rộng và rắn chắc khiến Mary có cảm tưởng ông ta khỏe như một con ngựa. Hai cánh tay dài tận gối, nắm tay to tựa như khúc dồi. Cái thân hình lực lưỡng đó lại chở một cái đầu nhỏ xíu nhô lên giữa hai vai. Với mớ tóc rối bù, dày kịt và đôi mày đen rậm, nom ông ta tựa một con khỉ đột khổng lồ. 

Mặc dù tay chân dài ngoằng, thân hình vạm vỡ, mặt ông ta trái lại không có vẻ… khỉ chút nào. Mũi cao, dài, quặp vào gần đến miệng, và miệng ông ta tuy hai mép xệ xuống nhưng vẫn còn phảng phất chút duyên dáng nào đó. Ðôi mắt ông ta thật đẹp mặc dù da chung quanh nhăn nheo và có nhiều tia máu nổi lên. Khi ông ta cười, hai hàm răng trắng bóng, nổi bật trên khuôn mặt nâu sạm, và lúc ấy, Mary lại nghĩ đến một con sói dữ. Ông ta nói: 

- Mary Yellan! Cô đã lặn lội từ xa đến đây để chăm sóc cho chú Joss đấy ư? Cô tốt quá! 

Giọng ngạo nghễ, ông ta lại cười hăng hắc, tiếng cười gần như tiếng gầm, vang khắp nhà, như một làn roi quất vào bộ thần kinh đang căng thẳng của Mary. Nàng cố trấn tĩnh, nhìn quanh khắp hành lang rộng vắng: 

- Thưa chú, dì con đâu ạ? Dì con không đợi con sao? 

- Thưa chú, dì con đâu ạ? (ông ta nhại giọng Mary.) Dì thân yêu nhỏ bé của cháu đâu? Sao không ra đây hôn cháu nhỉ? (Giọng cục cằn trở lại) Dễ cô không đợi được một phút sao? Cô không hôn chú Joss của cô sao? 

Mary lùi lại, hoảng hốt trước ý nghĩ phải hôn ông chú… Ông quả điên hay đang say? Có thể vừa điên lại vừa say? Như đoán được ý Mary, Joss nói oang oang: 

- Không sao đâu. Cứ yên chí lớn, tôi không động đến cô đâu. Cô sẽ sống an toàn tại đây. Vả, tôi còn khối việc phải lo… 

Ông ta nhìn nàng, vẻ ngạo nghễ như ta nhìn vào con vật hay một kẻ ngu si. Sau rốt, chán trò trêu chọc, ông ta đến cầu thang quát: 

- Patience! Mụ làm gì trên ấy? Con nhỏ đã đến và đang khóc đòi gặp mụ ngay đây! 

Có tiếng động sẽ sàng trên cầu thang, tiếng bước chân, rồi ánh sáng le lói của ngọn nến và một tiếng reo khẽ. Bà dì bước xuống, tay che mắt, một chiếc khăn quàng bẩn thỉu, mớ tóc xám, vài lọn xõa lên vai; khuôn mặt gầy gò, hai má nhô cao. Ðôi mắt mở to như luôn luôn muốn hỏi, môi mím chặt. 

Dì Patience mặc một cái áo có sọc. Chắc lúc trước màu hồng tươi nhưng giờ trở thành hồng bẩn. Chiếc khăn quàng vá víu thảm hại. Một dây nơ mới tinh trên đầu tóc càng làm cho sự tiều tụy của dì bộc lộ rõ ràng hơn. 

Mary nhìn dì buồn bã không thốt nên lời. Người đàn bà đáng thương kia là dì nàng ư? Dì Patience quyến rũ, xinh tươi mà nàng thường hình dung đến lại có thể già sọm như thế ư? 

Dì Patience xuống cầu thang, tiến lại gần cháu gái, nắm tay cô, cất tiếng thì thầm: 

- Cháu đó ư? Mary Yellan đó ư? Con người chị xấu số của dì đây! 

Mary gật đầu, lòng thầm cảm ơn Chúa đã không để mẹ nàng trông thấy dì trong tình trạng thảm não này. Nàng nhỏ nhẹ nói: 

- Dì yêu kính! Con sung sướng được gặp lại dì. Bao nhiêu năm trời nay… từ khi dì đến Helford!... 

Dì Patience lặng lẽ vuốt ve cháu rồi bỗng bà ôm chặt Mary, gục đầu vào vai nàng, khóc thổn thức, nghẹn ngào. 

- Thôi! Đủ rồi đó! (Joss cầu nhầu) Tiếp đón cái kiểu gì kỳ cục vậy? Việc gì mà khóc lóc? Dễ chừng mụ không thấy rằng con bé cần ăn tối hay sao? Coi lo cho nó ăn uống. 

Nói xong, Joss cúi xuống, vác cái rương lên vai nom dễ dàng, nhẹ như ta nâng một cái gói nhỏ. 

- Tôi mang cái rương của nó lên phòng…! Chốc nữa tôi xuống mà chưa có gì cho nó ăn, tôi sẽ cho mụ khóc bằng thích. Cả cô cũng thế, Mary ạ! Nào! cô đã thuần tính chưa hay còn… ưa cắn. 

Lão dí ngón tay vào miệng Mary rồi cười hăng hắc lần nữa, trước khi lên gác. 

Dì Patience nín khóc, cố cười với cháu, nhưng nụ cười méo mó thảm thương. Dì đưa tay lên vén mấy lọn tóc, một cử chỉ quen thuộc đối với Mary. Mắt dì nhíu lại, môi mím chặt, lặng lẽ dì dắt Mary đi qua một hành lang khác tối om, vào bếp. Ba ngọn nến soi sáng căn bếp tồi tàn và trong lò đốt than bùn. Nom dì có vẻ một con vật đáng thương, chỉ biết tuyệt đối phục tòng và chịu đựng mọi đối xử độc ác. Dì nói: 

- Ðừng để ý đến thái độ của chú con, ông làm gì mặc ông, người lạ không thể hiểu đâu. Chú vẫn là người tốt… tốt nhất… 

Dì tiếp tục ca tụng chồng trong khi sửa soạn bữa ăn cho cháu. Mary ngồi trước ngọn lửa, sưởi ấm đôi tay lạnh cóng. Khói từ bếp tỏa ra bay tận nóc và vương khắp gian nhà, làm cay mắt cô gái, vào cả mũi, miệng cô… 

- Rồi con sẽ hiểu và thương yêu ông ấy. Ông rất đặc biệt, mọi người đều kính nể ông, chả ai chỉ trích ông. Ðôi khi ở đây có đông khách, không phải lúc nào cũng yên tĩnh đâu, con ạ! Xe qua lại trên quốc lộ mỗi ngày… Nhiều người danh giá đến đây. Hôm qua, một người đến chơi, dì biếu anh ta một ổ bánh. Anh ta nói: “Ở vùng này chỉ có bà làm bánh ngon nhất”. Ông Bassat ở North Hill, một địa chủ lớn trong vùng, hôm thứ năm gặp dì đã nghiêng mình, cất mũ chào dì rất nhã nhặn. Người ta nói rằng… 

Mary khổ sở thấy dì tránh nhìn mình trong khi nói và sự liến thoắng tố cáo lời dì không đúng sự thật. Trông dì như đứa trẻ bịa chuyện một cách vụng về. Nàng mong cho dì ngừng lời, vì lời nói của bà cũng làm nàng đau xót như khi bà khóc. Có tiếng chân phía sau, Mary hồi hộp quá: nàng biết chú Joss đã xuống và có thể nghe được những lời vợ nói. Dì Patience tái mặt và lại bắt đầu cắn môi. Lão nhìn cả hai giọng chế giễu: 

- Sao? Mấy chị mái ghẹ bắt đầu rù rì đó ư? 

Lão bỗng thôi giữ vẻ giễu cợt, nhíu mày gắt vợ: 

- Mụ nín khóc ngay nếu mụ nói thả cửa kiểu đó, phải không? Ta nghe mụ nói gì rồi, đừng có ngốc! Mụ tưởng rằng cháu mụ có thể tin những điều mụ nói ư? Một đứa trẻ cũng không tin nữa là. 

Joss hầm hầm ngồi xuống cái ghế đặt cạnh bàn ăn, ngồi mạnh đến nỗi ghế gần muốn đổ. Rồi ông ta vơ ổ bánh cắt một khúc bôi bơ lên, nhai ngấu nghiến, bơ chảy dài xuống khóe miệng. Lão ra hiệu cho Mary lại gần: 

- Lại đây! Tôi biết cô đang đói… 

Bằng cử chỉ thành thạo, Joss cắt một lát bánh mỏng, phết bơ lên, trái ngược với cách ăn của lão. Mary rùng mình khi thấy một kẻ thô lỗ như lão lại có cử chỉ tế nhị, hình như những ngón tay lão có tiềm lực trở nên khéo léo hay hung bạo tùy từng lúc. Giá lão cắt một khúc bánh to, vứt cho nàng, lại dễ chịu hơn, vì cử chỉ phù hợp với con người lão; đằng này cái lịch sự của lão đầy vẻ mờ ám, nham hiểm và quá bất ngờ. Tuy nhiên, nàng điềm tĩnh cảm ơn lão rồi ăn. 

Dì nàng, suốt từ lúc lão xuất hiện trong bếp lại trở nên câm nín, bà chăm chú chiên thịt, luống cuống cho đến nỗi cái lò rơi xuống trong sự hốt hoảng của dì. Mary toan đứng lên giúp dì thì Joss ngăn lại: 

- Thôi! Một người ngu quá đủ rồi! Ngồi yên đó! 

Mary biết mình đang bị chú nàng quan sát sau lưng. Lão vừa xỉa răng bằng móng tay, vừa hỏi: 

- Cô uống gì đây? Rượu chát? Rượu ngọt hay bia? Ở đây có thể chết đói chớ không chết khát đâu. Lữ quán Giao Mai này không để cho ai khô cổ… 

Lão lại cười, nheo mắt và tặc lưỡi. Mary bình tĩnh: 

- Cho cháu xin tách trà, cháu không quen uống rượu. 

- Uống trà? Chao ơi! Lạy Chúa tôi! Cô có cần một cái nôi không? 

Và lão chộp lấy bàn tay cô gái: 

- Bàn tay này trông khá lắm đối với một kẻ ở nông trại. Tôi chỉ ngán phải thấy những bàn tay thô kệch. Không gì nản bằng phải nhìn bàn tay xấu xí rót rượu cho mình, không phải khách hàng ở đây khó tính nhưng chưa bao giờ Lữ quán Giao Mai có mặt một thiếu nữ như cô. 

Buông tay Mary, lão quay sang vợ: 

- Patience! Chìa khóa đây, vô kho lấy cho tôi chai rượu chát. Khát lắm! 

Dì nàng nhanh nhẹn bước ra, mất hút sau dãy hành lang. Lão tiếp tục dùng móng tay xỉa răng, chốc chốc lại huýt sáo trong khi Mary lặng lẽ ăn bánh mì và uống trà. Ðầu nàng nặng như có ai cột chì vào. Khói làm nàng cay mắt thêm; nhưng nàng vẫn tỉnh táo quan sát Joss. Hình như nàng bị lây sự sợ hãi của dì: nàng tiên cảm mình và dì là hai con chuột nhắt sa bẫy và chú Joss là con mèo ác độc không chịu giết dì cháu nàng ngay… 

Dì Patience trở lại với chai rượu trên tay. Rồi trong lúc chồng uống rượu, dì tiếp tục chiên thịt, đoạn dọn lên, hai dì cháu cùng ăn. 

Ðột nhiên, Joss trở nên cau có, lão đá đá vào gầm bàn và đập mạnh tay xuống bàn. Ly, tách, dĩa xô vào nhau, một cái muỗng rơi xuống đất vỡ nát. Lão quát: 

- Nghe đây: Mary Yellan! Tôi là chủ nhà này, cô phải biết điều đó. Tôi bảo cô làm gì thì cô làm nấy. Giúp việc trong bếp, dọn dẹp nhà cửa và phục vụ khách hàng. Tôi sẽ không động đến một sợi tóc của cô. Nhưng nếu cô giở thói bép xép tò mò thì cô sẽ biết tay tôi! 

Mary thu hết can đảm nhìn Joss. Nàng đặt hai tay lên đùi để lão khỏi thấy nàng… run: 

- Cháu hiểu điều đó. Cháu không có thói tò mò và xen vào chuyện kẻ khác. Chú làm gì cháu không quan tâm đến, cháu sẽ lo tròn phận sự. Nhưng xin chú nhớ cho: nếu chú hành hạ dì cháu, cháu sẽ rời Lữ quán tức thì, cháu sẽ báo cho cảnh sát ngay. Cháu xin thề… 

Mặt nàng tái mét. Nếu Joss lớn tiếng dọa nàng, chắc nàng sẽ khóc và khiếp sợ thêm lên. Nàng đã thốt những lời cứng cỏi vì quá thương dì, không tự chủ nổi. Nhưng nói xong, nàng lo lắng quá. Không ngờ những lời nàng có ích cho nàng. Joss bật ngửa ghế ngồi ra, có vẻ nguôi giận: 

- Tốt! Tốt quá! Ta đã biết cô là thứ người gì! Ta ưa những kẻ có gan. Ta tin rằng một ngày kia cô sẽ có việc xứng đáng với cái gan to lớn đó. 

Mary nghe tiếng dì nàng thở hổn hển bên cạnh nàng, dì nói: 

- Ồ! Joss! Tôi van anh! Tôi van anh! 

Giọng dì khẩn khoản đến nỗi Mary kinh ngạc, nàng thấy dì chồm đến gần Joss và ra dấu cho lão im đi. Cằm bà run run và đôi mắt lo sợ của bà làm Mary càng hãi. Làm sao mà dì nàng khiếp sợ đến mức này? Joss định nói gì? Mary không thể nén tò mò. Người đàn ông nóng nảy xua tay: 

- Ði ngủ đi! Ta chán cái khuôn mặt đưa ma của mụ. Cháu mụ khá hơn. 

Dì Patience đứng lên, ra khỏi phòng, nhưng còn ngoái lại nhìn chồng bằng cái nhìn tuyệt vọng. Tiếng chân dì xa dần trên cầu thang. Joss đẩy cái ly không đến gần Mary: 

- Ðời tôi chỉ có một nhược điểm và tôi nói cho cô nghe đây: rượu! Ðó là một điều bất hạnh, tôi biết thế mà không tránh được. Có một ngày nó sẽ hại tôi. Có khi, tôi uống ít như hôm nay, có nhiều hôm khác, tôi uống như hũ chìm, uống liền trong nhiều giờ… Rượu là sức mạnh, là đồng minh, là đàn bà, là thiên đàng… Lúc đó tôi như một vị Hoàng Ðế, tôi có cảm tưởng tôi nắm trong tay nhiều quyền hạn sinh sát… Và tôi kể toạc ra những tội ác đã nhúng tay vào, dì cô phải nhốt tôi vào phòng khóa cửa lại. Rồi khi tôi tỉnh lại, tôi mới được ra. Không ai, trừ dì cô được biết những bí mật của tôi. Gìờ lại thêm cô nữa, tôi tiết lộ với cô vì tôi đã chuếnh choáng say không kìm giữ miệng lưỡi nổi, nhưng tôi chưa đến nỗi mất cả lý trí, tôi không kể hết cho cô nghe… 

Giọng ông ta lè nhè nhưng vẫn ồm ồm. Than trong lò tàn dần, bóng tối đã nhoài đến nhiều nơi trên vách, nến gần tắt, ánh sáng leo lét làm bóng Joss nổi bật lên quái đản. 

- Mary Yellan! Ta muốn kể chuyện này… ô, không! ta còn sáng suốt lắm… Ðừng nghe lời dì cô, đừng tin rằng lão địa chủ đã ngả mũ chào mụ. Láo! Láo toét! Lão mà thấy tôi đàng xa là lo dông thẳng trước khi làm dấu thánh giá. Xe cộ cũng chả dám ngừng lại đây. Bọn trưởng giả mà dám đến đây ư? Nhưng chả sao, tôi đâu cần chúng? Tôi có đủ khách hàng mà! Tụi trưởng giả càng tếch xa, tôi càng thích. 

Mary lặng lẽ nghe, ngồi cứng trong ghế, không dám cử động như sợ lão sẽ nổi giận mà đổi thái độ chăng? Joss vẫn thao thao: 

- Bọn chúng đều ngán ta, tất cả bọn ngu ngốc đó. Ta mà được giáo dục đàng hoàng thì ta sẽ ngồi cạnh Vua George ấy chứ, sá gì thứ chúng? Chính rượu hại ta! Chưa có một ai trong giòng Merlyn ta chết yên ổn trên giường… 

Lão ngừng lại, tợp một ngụm rượu, rồi lại tiếp: 

- Cha ta bị treo cổ vì tội giết người. Ông nội ta bị xẻo tai về tội ăn trộm và sau đó, ông bị đày biệt xứ, chết thảm vì rắn cắn. Ta là anh cả, ta có hai em. Thằng em kế của ta chết đuối trong đầm Trewartha. Thằng quỉ Jean, thằng út thì khi chúng ta vào tuổi thanh niên, nó hãy còn bú mẹ ta, nhưng nó khôn ranh lắm. Và nó lại không hợp với ta. Một ngày kia nó sẽ bị tóm và bị treo cổ cho mà xem! 

Joss chợt im. Hai mắt nhìn đăm đăm vào cái ly, nâng lên lại đặt xuống: 

- Thôi! Đêm nay cô biết quá nhiều rồi, đi ngủ đi! Kẻo tôi vặn cổ bây giờ! Đèn đây, phòng cô ngay trên cổng chính đó. 

Mary im lặng đón ngọn nến trên tay lão. Nàng sắp quay lưng đi thì bị lão nắm lấy vai, giật lại: 

- Đang ngủ mà nghe tiếng xe dừng trước quán, cô vẫn nằm yên, nghe chưa? Lấy chăn mà trùm đầu cho kín, nghe chưa? Chớ khá tò mò mà nghẽo, nghe chưa? Hiểu chưa? 

- Thưa chú, cháu hiểu rồi! 

- Vậy thì tốt! Nếu trái lời tôi, cô sẽ dập xương đa! 

Mary bước ra hành lang tối thui về phòng mình theo lời ông chú hung tợn. Đến nơi, Mary đẩy cửa vào, thấy rương mình nằm đó, nàng yên lòng biết mình không nhầm phòng. Vách nhám sì, không dán giấy, trần nhà cũng thế. Một cái thùng gỗ trên đặt một tấm gương nứt được thay cho bàn chải tóc. Không có thau rửa mặt. Chắc mình phải xuống bếp rửa mặt? Mary tự hỏi. Khi nàng nằm xuống, giường run lên ken két và hai cái chăn mỏng như nhơm nhớp ướt. Mary quyết định không thay áo. Nàng để nguyên bộ áo quần bụi bặm và khoác thêm áo ngoài mà ngủ. 

Mary đến cửa sổ nhìn ra ngoài. Gió lặng rồi tuy mưa vẫn chưa ngớt. Có tiếng động kỳ dị vang lên. Trời tối quá nên Mary không thấy gì rõ, nhưng một vật treo lủng lẳng làm nàng hoảng hốt nhớ đến lời Joss Merlyn… Ðịnh thần nhìn kỹ nàng biết đó là tấm bảng chỉ dẫn, tấm bảng đong đưa theo gió, cũ kỹ đáng thương chắc đã trải qua những ngày tốt đẹp? Những dòng chữ trắng tắm nắng, gội mưa đã trở thành xám xịt: Lữ quán Giao Mai!... Lữ quán Giao Mai… 

Mary đóng cửa rồi lên giường. Hai hàm răng nàng va vào nhau cầm cập, tay chân lạnh cóng. Mary tuyệt vọng: nàng làm cách nào để trở lại Bodmin cách đây những 12 dặm? Nàng nhắm hai mắt lại, đồng thời khuôn mặt Joss hiện ra, ban đầu ông ta tươi cười tử tế rồi trở thành nhăn nhó, giận dữ. Mớ tóc dày đen kịt bù rối, chiếc mũi quặm và hai bàn tay với những ngón dài, xinh đẹp và… lợi hại… Nàng cảm thấy mình như một con chim sa lưới, khó lòng thoát khỏi. 

“Mary! Muốn thoát khỏi đây, mình phải trốn ngay đêm nay. Ðến mai quá muộn!” Có tiếng nói với nàng như thế, nhưng Mary vẫn nằm yên lặng, lắng tai. 

Có tiếng động ở cầu thang, tiếng Joss lầu bầu gì đó rồi xa dần. Mary không do dự nữa, nàng không muốn sẽ trở nên khùng khùng như dì nàng, sống khổ sở như con vật... Nàng mở cửa và lướt qua hành lang. Khi tay nàng đặt vào tay vịn ở cầu thang, chân dợm bước xuống thì nghe tiếng khóc, tiếng hào hển thở và tiếng nấc... Đúng là tiếng dì nàng! Mary dừng lại trong bóng tối một lúc rồi quay lại phòng mình. Không! Dù tương lai có ra sao, nàng có phải đương đầu với hiểm nguy đi nữa nàng cũng không rời Lữ quán Giao Mai, bỏ mặc dì Patience trong tay con ác quỉ. Nàng sẽ là điểm tựa, nguồn an ủi của dì. Nàng sẽ đứng giữa Joss Merlyn và dì nàng, che chở cho dì...

A! 17 năm ròng mẹ nàng đã sống và làm việc một mình, bà khổ gấp vạn Mary, bà sẽ không chạy trốn vì sợ một gã đàn ông dở điên, dở say như Joss. Bà sẽ can đảm chống lại kẻ thù và thắng hắn. Bà không chạy trốn bao giờ.

Đầu óc bời rối, Mary cố dỗ yên giấc ngủ. Mỗi tiếng động như đập mạnh vào bộ thần kinh căng thẳng của nàng: từ tiếng gió đong đưa tấm bảng đến tiếng chuột rúc trong xó xỉnh gần đây. Đêm như dài vô tận, Mary đếm từng phút, từng giây.

Khi tiếng gà đầu tiên cất lên, nàng mệt mỏi, thiếp đi trong một giấc ngủ nặng nề.
____________________________________________________________ 
Xem tiếp CHƯƠNG III