Thứ Tư, 31 tháng 12, 2014

Hai Chị Em Lưu Lạc - NHẬT LỆ GIANG





Tác giả: NHẬT LỆ GIANG


HAI CHỊ EM LƯU LẠC


Tủ sách Tuổi Hoa - 1967

LOẠI HOA XANH: Tình cảm nhẹ nhàng (gia đình, bạn bè)

Chương 1 & 2
Chương 3 & 4
Chương 5 & 6 (hết)


Nguồn: ĐÈN BIỂN sưu tầm và đánh máy

Thứ Hai, 29 tháng 12, 2014

CHƯƠNG VII_LÂU ĐÀI THẦN TIÊN

VII

BẠCH HUỆ PHẢI SỐNG


Trước biệt thự ông bà Thiện Căn, một chiếc xe chất đầy rương hòm sắp sửa khởi hành. Một số bạn bè quen biết đến tiễn đưa hai vợ chồng ông trở lại kinh thành sau mấy tháng nghỉ hè ở thôn quê. 

Ông bà đã ngồi sẵn trên xe, gã đánh xe còn đợi Thiện Chí để gia roi cho đôi ngựa cất vó. Thiện Chí đâu rồi ? Nó đang hàn huyên với bạn gái thân mến trước lúc từ giã cảnh đồng quê rừng núi. Trong giờ phút chia ly, đôi bạn còn biết bao chuyện tâm sự giãi bày, nhưng mặt nhìn mặt lại chẳng nói ra lời. 

Ngày mai, Thiện Chí cắp sách đến trường gặp bạn bè cũ, nhưng kiếm đâu ra người bạn quí hoá như Bạch Huệ. 

Cầm tay Bạch Huệ, Thiện Chí tự nhiên thốt ra lời nói ngắn ngủi nhưng bao hàm biết bao ý nghĩa : 

- Bạch Huệ. Phải sống ! Phải sống ! 

Gã đánh xe gia roi, xe chuyển bánh. Thiện Chí còn ngoảnh mặt lui nhìn Bạch Huệ lần cuối cùng. 

Tại lâu đài họ Nguyễn, người ta cũng đang rộn rịp sắp đặt chuyến khởi hành. Bỗng một chiếc xe độc mã ngừng lại trước sân. 

Mọi người ồ lên một tiếng ngạc nhiên, nhìn thấy từ trên xe nai vàng nhảy xuống. Nó đã biến đổi lạ thường : thân hình tiều tụy, bụng lép kẹp, lông xù, dưới hai khoé mắt dính đầy ghèn. Bạch Huệ chạy đến ôm nai vàng vào lòng nước mắt ràn rụa. 

Bà Thanh Nga bước xuống nói liên hồi : 

- Tôi đem nai vàng trả lại hai bác, tôi đành chịu thua nó. Suốt tuần lễ nay, nó tuyệt thực chẳng thèm ăn uống, đến nỗi sữa cũng chê. Và nó lại khóc thực tình, nước mắt chảy xuống từ hai khoé mắt, tôi không bày đặt đâu ! 

Nai vàng chạy đến liếm tay mấy chị em Bạch Huệ, vào khắp các phòng ốc trong lâu đài. Nhìn thấy vú già đang bế bé Út trên tay, nó mừng rỡ cuống quít nhảy hai chân trước chồm lên lưng vú.

Còn bé Quê ? Tình cảnh cũng đáng thương không kém nai vàng, Bạch Huệ đâu muốn xa rời nó, nhưng một búp bê quê mùa xấu xí làm sao chịu nổi đời sống xa hoa rộn rịp ở thị thành. 

Hồi năm ngoái, bé Tý lên 8, con bác Sửu ở cách nhà Bạch Huệ độ vài dặm, bị xe ngựa dằng trúng hai chân, nên phải ngồi một chỗ tàn tật suốt đời. Mẹ Bạch Huệ đề nghị đem bé Quê tặng bé Tý để an ủi em bé tàn tật quạnh hiu. Mặc dầu Bạch Huệ rất luyến tiếc bé Quê, nhưng nay em sắp từ bỏ tất cả để lên tỉnh thành, nên chẳng còn thiết gì nữa ! Em nghĩ đến cảnh ngộ đáng thương của bé Tý, nên vui vẻ thuận lòng cho bé Tý búp bê thân mến của em. 

Bước vào căn nhà xiêu vẹo của bác Sửu, Bạch Huệ nhìn thấy bé Tý xanh xao ốm yếu ngồi một mình trong xó tường. Em cầm búp bê đặt vào bàn tay em bé tàn tật : 

- Chị sắp rời khỏi nơi đây. Trong lúc các trẻ em khác nô đùa vui vẻ, riêng em buồn thiu không bè bạn, nên chị đem búp bê nầy tặng em để em đỡ hiu quạnh. 

Bé Tý mở đôi mắt thao láo nhìn Bạch Huệ : 

- Chị cho em thật à ! 

- Chị đâu có gạt em ! Búp bê nầy ngoan lắm, em nên đối xử tử tế với nó. Em ở lại mạnh khoẻ. 

- Cám ơn chị. 

Đôi tay gầy ốm bé Tý siết chặt bé Quê vào lòng sung sướng. Trong đời nó, đây là vật đầu tiên người ta đem tặng nó.


*


Từ ngày bà Thanh Nga trả lui nai vàng cho gia đình Bạch Huệ, nai càng ngày càng trở nên hoang dại. Suốt ngày nó đi lang thang trong rừng không trở về nhà. Linh tính cho Bạch Huệ biết em không thể giữ mãi nai vàng bên em. Em cũng sắp rời khỏi lâu đài, ai là người bảo vệ săn sóc nó. Chi bằng trả tự do để nó trở về rừng núi. 

Một hôm trời vừa nhá nhem tối. Bạch Huệ đang nằm mơ màng trên cỏ dưới một gốc cây. Bỗng nghe tiếng động khẽ ở cành cây trước mặt, em trông thấy nai vàng từ trong bụi rậm nhảy ra. Nó nhìn quanh kêu lên một tiếng nho nhỏ, một nai tơ rẽ cành lá chạy đến đứng bên nai vàng. Nai tơ nhìn thấy Bạch Huệ lại nhảy vào lùm cây biến mất. Nai vàng chạy đến đưa mõm kề vai Bạch Huệ rồi thè lưỡi liếm má em. Đoạn nó nhìn về hướng rừng rú nhảy theo nai tơ mất dạng. Nai vàng theo bạn mới, bạn tâm tình đồng loại của nó. 

Về nhà, Bạch Huệ kể chuyện nai vàng cho ba má nghe. 

Ba Bạch Huệ an ủi con : 

- Thế là chúng ta yên tâm về số phận nó. Nó không trở về với người nữa ! Bây giờ rừng rú sẽ bảo vệ nó ! Ba sẽ bỏ một ít rơm rạ cho hai vợ chồng nai ăn trong tiết đông lạnh lẽo. Ba còn nhờ viên chức sở kiểm lâm vùng nầy giữ gìn nó để khỏi bị thợ săn hạ sát. Con khỏi lo, bạn con sẽ hưởng một đời tự do sung sướng. 

Càng ngày nai vàng càng vắng mặt ở lâu đài. 

Đôi khi, nai vàng trở về liếm tay Bạch Huệ, uống một tý sữa rồi lại ra đi. 

Tất cả đồ chơi của Bạch Huệ, em đều đem phân phát cho các chị em. Sợi dây chuyền của cha nuôi Hùng Tâm tặng em, em cũng đeo vào cổ cho bé Út. 

Hôm nay là ngày cuối cùng của gia đình ở đây. Ngày mai phải từ bỏ lâu đài thân mến. Một xe ngựa chất đầy áo quần và đồ vật dụng sẵn sàng chuyển bánh. Thêm hai chiếc xe chở toàn thể gia đình họ Nguyễn cũng chuẩn bị lên đường. Mẹ Bạch Huệ cầm khăn tay chặm nước mắt, bà nội vẫn lần tràng hạt lâm râm cầu nguyện. Ba Huệ xem lại các phòng ốc trong lâu đài một lần chót. Ông giao xâu chìa khoá các phòng cho anh giữ nhà để trao lại cho chủ mới. 

Đoàn xe lên đường tiến đến nhà ga. 

Bạch Huệ lạnh lùng bất động như tượng đá, nhìn lại lâu đài cổ kính, đôi mắt không còn chút thần sắc. 

Trên đồi núi, những cây thông còn lay động cành lá như muốn ngăn trở bước tiến của đoàn xe. Tiếng gió rì rào còn vang lên âm thanh : 

- Bạch Huệ, Bạch Huệ… Huệ… uệ… uệ… 

Đoàn xe ngừng trước nhà ga. 

Bạch Huệ bừng tỉnh. Em còn sống ư ! Giờ giải thoát chưa đến sao ? Em bước xuống xe, lảo đảo đứng không vững, rồi từ cổ em đưa ra tiếng rên não nuột, em khóc nức nở. Mẹ em chạy vội lại, ôm em vào lòng. Em vẫn tấm tức khóc. Những hành khách đợi xe đến nhìn em thương hại. 

Xuân Lan rỉ tai Bạch Huệ : 

- Nín đi ! Mọi người đều nhìn em, không biết hổ thẹn à ! 

Má Bạch Huệ dìu em lên toa xe dành riêng cho gia đình. Những va ly lớn nhỏ và những đồ vật đem theo đều sắp đặt trong một toa xe khác. 

Xe lửa bắt đầu chuyển bánh đem Bạch Huệ đến một nơi xa lạ, đem em đến một đời sống mới mẻ. Tiếng khóc Bạch Huệ nhỏ dần. Biết bao ý nghĩ dồn dập đến trí não em ! À ! Ta chưa chết ư ! Buồn phiền sầu não cũng không cắt đứt được mạch sống ta ! Em hồi tưởng vẻ mặt Thiện Chí ngạc nhiên ngơ ngác lúc nghe em nói chán đời không muốn sống. Tiếng nói Thiện Chí lúc từ giã em, còn văng vẳng bên tai : Bạch Huệ ! Phải sống, phải sống. Lời nói Thiện Chí hữu lý thay ! Nay em nghe tiếng bánh xe rít trên đường sắt cũng hoạ theo lời nói Thiện Chí : 

- Phải sống ! Phải sống ! Phải sống ! 

Những lời Thiện Chí khuyên em lại rộn ràng bên tai : 

- Ai cũng có thể phụng sự xã hội để giúp ích mọi người. 

Tiếng bánh xe nghiến trên đường sắt vẫn lặp đi lặp lại điệp khúc : 

- Phải sống ! Phải sống ! Phải sống ! 

Bạch Huệ ngẩng đầu lên, mở đôi mắt sưng mọng, nhìn chung quanh em. Ba thản nhiên ngồi đọc báo, ba chị em Bạch Huệ ngắm nhìn phong cảnh qua cửa kính xe, bà nội tay lần tràng hạt, vú già bồng bé Út trên tay ru ngủ, còn má em xem chừng mệt nhọc lắm. 

Em vội lau khô nước mắt, đứng dậy đưa hai tay bồng bé Út. Nó vui vẻ hít cổ em và kề sát đầu vào vai em. 

Bây giờ tâm hồn em trở lại bình tĩnh. Câu chuyện thần tiên đã qua. Lâu đài cổ kính thân mến chẳng còn nữa ! Những tiên lùn không bao giờ xuất hiện trên thác nước. Còn rừng rú em không còn mơ tưởng để luyến tiếc. 

Đời sống thành thị bắt đầu : em phải tập làm quen với nếp sống mới, phải giúp ích mọi người. Cố nhiên Chúa muốn thế, vì Chúa không đem em theo người lên thiên đàng. 

Xe chạy chậm chậm, tiếng bánh xe rít trên đường sắt nghe càng nhẹ dần, nhưng Bạch Huệ vẫn còn nghe văng vẳng âm thanh bánh xe cút kít trên đường sắt : 

- Phải sống ! Phải sống ! Phải sống ! 

Sau kính xe, hai bên đường đã thấy lố nhố phố xá. 

Tiếng còi xe rú lên một hồi dài, xe lửa ngừng lại trước nhà ga.

MAI HƯƠNG 
Kể theo Helena Zakrzewska

CHƯƠNG VI_LÂU ĐÀI THẦN TIÊN

VI

KHO VÀNG TƯỞNG TƯỢNG


Còn 8 ngày nữa hết hè, Thiện Chí phải trở lại kinh thành. Hôm nay trời đẹp tạnh nắng, Thiện Chí lại thơ thẩn một mình không tham gia những trò chơi hấp dẫn với chúng bạn. Nguyên do vì đâu khiến nó chẳng thích nô đùa ? Vì nó muốn chia xẻ cùng Bạch Huệ nỗi buồn phiền sầu muộn. Chẳng phải Bạch Huệ gắt gỏng khó tính xa lánh bạn bè, nhưng một tin khủng khiếp đã làm em bủn rủn tay chân. Lâu đài thân mến của gia đình Bạch Huệ sắp sang tay người khác. Ba em quyết định bán ngôi nhà họ Nguyễn cho một công ty để biến đổi thành nơi nghỉ mát cho du khách. 

Hỏi sao em chẳng buồn phiền ! Trong gia đình, em là người tha thiết nhất ngôi nhà em đã sinh trưởng, em mến từng căn phòng từng cánh cửa. Còn khu rừng em quen thuộc từng lá cây ngọn cỏ, nay bỏ đi sao khỏi luyến tiếc ! Bạch Huệ buồn, Thiện Chí cũng buồn theo. Ước gì có tiền rừng bạc bể, nó bỏ ra chuộc lại lâu đài họ Nguyễn. Rồi hè đến, nó về nghỉ mát cùng Bạch Huệ, rong chơi khắp nơi rừng rú để mơ tưởng những câu chuyện thần tiên. 

Đang nghĩ ngợi vẩn vơ, nó đã nghe tiếng nói Bạch Huệ sau lưng : 

- Thiện Chí, tôi sắp từ giã cõi đời. Mùa xuân năm ngoái, bệnh tim tái phát, bác sĩ cho biết nếu gặp việc buồn phiền, khó lòng sống nổi. Sang hè, bệnh tình thuyên giảm, nhưng nay gần đến mùa thu, tôi cảm thấy trong mình quá mệt nhọc yếu đuối. Tôi ngỡ đã chết hôm qua, khỏi phải từ biệt lâu đài thân mến. 

- Sao Bạch Huệ lại nói lên những lời ích kỷ như thế ! Sao còn trẻ nhỏ đã vội chán đời ! Tôi không ngờ lời nói vừa rồi lại phát xuất ở một người nhiều từ tâm thiện chí như Bạch Huệ ! 

- Sao anh gọi tôi ích kỷ ? 

- Tất cả mọi người trong gia đình, Huệ thương mến ai hơn hết ? 

- Rừng núi. 

- Tôi hỏi thương người nào, chớ rừng núi đâu phải là người. 

- Thương bé Út, má tôi và cả anh nữa ! 

- Rõ ràng chưa ! Rừng núi đâu có cần đến Huệ. Bé Út mới cần đến Huệ. Nó thấy Huệ thì đưa tay đòi bế. Thế là nó thương Huệ. Chẳng những bé Út, còn bao nhiêu người thân mến trong gia đình đều thương Huệ, nhưng Huệ ích kỷ nên không nhận thấy. Nói nghe dễ dàng, nhưng người can đảm phải sống để cùng nhau chia xẻ mọi khó khăn cực khổ ở đời. Nếu biết phụng sự xã hội, chúng ta đều hữu ích. Phải sống ! Bạch Huệ, phải sống ! 


*


Đang ngồi ăn, Bạch Huệ nhìn ba lo lắng : 

- Nai vàng bỏ lại đây, ai săn sóc nuôi dưỡng nó ? 

- Ừ, ba cũng quên chuyện đó. Chúng ta khó lòng đem nó lên đô thành, vì nai không thể sống tù túng trong căn phòng chật hẹp. Thôi được, ba sẽ gởi nai nhờ bà Thanh Nga nuôi nấng. Biệt thự bà ta ở gần đây, sau nhà có khu vườn rộng rãi. 

Một đoàn thợ rừng đến đốn cây trong vườn sau lâu đài để xây dựng thêm những căn phòng nghỉ mát cho du khách. Tiếng cưa xẻ gỗ, tiếng búa đóng đinh vang động như xé nát tâm can Bạch Huệ. 

Thiện Chí nhìn nét mặt Bạch Huệ buồn rầu áo não : 

- Làm sao kiếm tiền để chuộc lại lâu đài ? 

- Chúng ta còn nhỏ kiếm đâu ra tiền ! 

- Hôm qua, tôi chợt nảy ra một sáng kiến. Nghe ba tôi kể chuyện cách đây vài cây số có một lâu đài sụp đổ vì trận động đất xảy ra vài chục năm nay. Lâu đài thuộc quyền sở hữu một bá tước già không con. Ông sống trơ trọi một mình với một lão bộc trong ngôi nhà thênh thang vắng vẻ. Lúc lâu đài sụp đổ, ông bị chôn vùi trong gạch đá với người lão bộc trung thành. Người ta đồn dưới hầm chứa rượu trong lâu đài có tàng trữ một kho vàng, nhưng ban đêm thỉnh thoảng thấy ông bá tước hiện lên với người lão bộc, nên không ai dám bén mảng đến gần. đêm nay trăng sáng, chúng ta thử mạo hiểm đến đó, biết đâu chẳng tìm ra kho vàng. Bạch Huệ đủ can đảm không ? Biết đâu Tiên lùn và rắn thần lại không giúp đỡ chúng ta một phen nữa ! 

- Sợ gì ! Nhưng làm sao tôi lẻn ra khỏi nhà mà chẳng ai trông thấy ? 

- Đợi mọi người ngủ say, Huệ trốn ra. Hãy chuẩn bị sẵn sàng, lúc nào nghe tiếng huýt gió, Huệ nhảy qua cửa sổ đã có tôi chờ đợi ở ngoài. Chỉ chừng ba tiếng đồng hồ. Đi, về mất hai tiếng, thám hiểm trong lâu đài độ một tiếng. Chúng ta có thể trở về trước lúc mặt trời mọc. 

Hai đứa hẹn nhau đến tối sẽ thi hành kế hoạch tìm vàng. 

Nghe tiếng huýt gió, Bạch Huệ từ trên cửa sổ trụt xuống, tay cầm đôi giày đã thấy Thiện Chí sẵn đó. Dưới ánh trăng vằng vặc, chúng lẳng lặng dắt nhau rời khỏi lâu đài tiến bước. Thiện Chí đã một lần cùng ba nó ngang qua lâu đài, nên thuộc chừng đường sá. Nó kéo Bạch Huệ băng qua một cánh đồng đến một khu rừng rồi đi mải miết. Chúng hy vọng tìm thấy kho vàng nên quên cả mệt nhọc sợ hãi. Đi gần một tiếng đồng hồ, chúng đã trông thấy trước mặt lù lù một đống gạch đá khổng lồ ngổn ngang trên nền nhà rộng rãi bám đầy rêu cỏ. Đó là lâu đài của ông bá tước đã bỏ hoang vắng từ lâu. 

Chúng hồi hộp, run rẩy, nắm chặt tay nhau để thêm can đảm. Chúng trèo qua đống gạch đá, dò dẫm từng bước một, nhìn thấy giữa nền nhà một lỗ hổng tròn bằng miệng giếng. Thiện Chí đoán dưới lỗ hổng là hầm rượu chứa đựng kho vàng, định bò xuống thám hiểm, nhưng ngó xuống thấy đen tối sâu thẳm, nên e ngại. Chúng không đem thang và dây thừng làm sao trụt xuống khỏi té bổ. 

Đang chú mục nhìn vào hầm rượu, bỗng nhiên Thiện Chí nhảy hai chân lia lịa : 

- Xem kìa, xem kìa ! Kho vàng đó Bạch Huệ thấy không ? Nó chiếu sáng loà một góc đó ! 

Bạch Huệ nhìn xuống hang, quả nhiên thấy một đống đen sì toả ánh sáng lấp lánh : 

- Chúng ta đã tìm thấy vàng, nhưng làm cách nào đem vàng lên ? 

- Không có thang, không có dây thừng, không thể nào trụt xuống hang. Chúng ta không đem đèn bấm, sợ rắn rít nguy hiểm lắm. Bây giờ đã mệt đừ, chúng ta hãy trở về. Tôi sẽ cầu cứu ba tôi giúp một tay khuân vác kho vàng. 

- Nếu chúng ta rời khỏi nơi đây, kho vàng sẽ biến mất ! 

- Đã thấy đó rồi, biến mất sao được ! 

Chúng lại dắt tay nhau theo con đường cũ trở về lại lâu đài và về đến nhà vào lúc nửa đêm. Bạch Huệ tạm biệt Thiện Chí, lẹ làng leo lên cửa sổ vào phòng riêng. Sáng mai, vú già lên gác đánh thức Bạch Huệ, nhưng thấy em còn ngủ say sưa nên lại trở xuống. 

Tại biệt thự, ông Thiện Căn cười rộ lên lúc nghe kể chuyện kho vàng vừa tìm thấy ở lâu đài ông bá tước. Nhưng Thiện Chí vẫn một mực khóc lóc năn nỉ cha mau đến lâu đài khuân vàng về, kẻo để lâu vàng sẽ biến mất. Ông thừa hiểu Thiện Chí nóng lòng kiếm tiền chuộc lâu đài cho Bạch Huệ, nên đã có trí tưởng tượng phong phú, nhưng ông cũng chìu lòng con, không nỡ làm tiêu tan ảo vọng của nó. Ông cùng Thiện Chí và gã đánh xe đem theo dây thừng, đèn bấm, lên xe độc mã tiến đến lâu đài ông bá tước. 

Ban ngày con đường dẫn tới lâu đài bằng phẳng dễ đi, nên không đầy nửa tiếng đồng hồ, chiếc xe ông Thiện Căn đã đến nơi. Thiện Chí vội vàng xuống xe kéo ông đến miệng hầm mà nó nhất quyết có vàng ở dưới. 

Ông Thiện Căn thòng sợi dây thừng để anh đánh xe trụt xuống hầm thám thính. Tay cầm đèn bấm, anh rọi khắp nơi lục lọi tìm kiếm. 

Ông đứng trên hỏi xuống : 

- Anh đã thấy gì chưa ? 

Thiện Chí cũng nôn nức hỏi dồn : 

- Chắc nhiều vàng lắm hả ? 

- Gỗ mục nhiều vô số, chớ vàng không thấy đâu cả ! 

Gã đánh xe thấy vật gì nhúc nhích dưới đống gỗ, sợ rắn độc nên anh hoảng sợ níu dây thừng leo lên. 

Ông Thiện Căn nhìn vẻ mặt thiểu não thất vọng của Thiện Chí cũng không nỡ la mắng : 

- Trong đêm tối, gỗ mục toả ra ánh sáng con không hiểu sao ? Con đem trí tưởng tượng kỳ lạ để cho Bạch Huệ một niềm hy vọng hão huyền. 

Thiện Chí yên lặng cúi đầu lên xe. 

Hai tiếng đồng hồ sau, Thiện Chí đến tìm Bạch Huệ với vẻ mặt thiểu não. 

Bạch Huệ đã đoán biết sự thật : 

- Kho vàng đã biến mất từ đêm qua. Trong giấc ngủ, tôi đã chiêm bao như thế. Thiện Chí đừng buồn nữa ! Hôm nay chúng ta đừng dạo chơi trong rừng núi, chúng ta hãy du lịch một chốn xa xôi bằng trí tưởng tượng. Nai vàng đã không còn, vào rừng rú làm gì ! Chúng ta sẽ đến một cõi xa xăm không bờ bến, nơi đó không sầu muộn biệt ly !
________________________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG VII

CHƯƠNG V_LÂU ĐÀI THẦN TIÊN

V

RẮN THẦN XUẤT HIỆN


Một chiều hè nồng nực. Bạch Huệ mệt mỏi nằm dài trên cỏ, thở khó khăn như cá ra khỏi nước. Ngồi bên em, Thiện Chí tay nâng cằm, dáng điệu uể oải lười biếng. Cái nóng nung người nóng nóng ghê ! Những bầy ruồi nhỏ bay chậm chạp trên mặt nước vo ve như tuồng ngái ngủ, nước thác đổ xuống chạm sỏi đá vang lên tiếng động đều đều buồn tẻ. 

Bạch Huệ nhìn bầu trời trong xanh không gợn tý mây : 

- Tôi mong trời đổ trận mưa rào. Không nhờ hơi mát ở thác nước, chắc tôi chịu không thấu cơn nóng bức oi nồng. Anh nghe chăng tiếng reo kỳ lạ của thác nước ? Nơi đây nhiều sỏi đá, ta càng nghe rõ vọng lên hai tiếng nói. Tôi đã thí nghiệm nhiều phen ! 

Thiện Chí nhướng đôi mắt nặng trĩu : 

- Thí nghiệm những “tiên lùn” của Huệ hả ? Nhiều trí tưởng tượng quá ! 

- Vâng, những chuyện cổ tích “tiên lùn” ở Ái Nhĩ Lan. 

- Trời nóng bức thế nầy nghe chuyện cổ tích cũng vui thú. Trong lúc mơ mơ màng màng ta có thể tin chuyện thần tiên thành câu chuyện thật. 

Bạch Huệ duỗi thẳng hai chân, hai tay gối dưới đầu, nói nho nhỏ : 

- Ở Ái Nhĩ Lan, có nhiều tiên lún thích sống trong các suối nước, nhất là nơi nào giòng nước chảy xiết, tiên lùn nhảy nhót nô đùa giữa sỏi đá trắng nõn, nói lên rồi lặp lại hai tiếng giống nhau. Nếu ai nghe được hai tiếng nói ấy của tiên lùn để đáp ứng tiếng nói thứ ba, thời tiên lùn xuất hiện thỏa mãn mọi điều thỉnh cầu. Một hôm có gã mục đồng đến gần thác nước định xin các tiên lùn một ân huệ. Gã ngồi bên thác chờ đợi tiếng nói tiên lùn. Ban đầu gã chỉ nghe tiếng nước chảy róc rách, nhưng gã vẫn tin đó là tiếng nói của tiên lùn trong sỏi đá, chớ không phải tiếng nước. Gã kiên nhẫn ngồi lắng tai chăm chú nghe. Quả nhiên một tiên lùn nhảy ra khỏi mặt nước đứng trên phiến đá hát lên : “Thứ hai, thứ ba ! Thứ hai, thứ ba ! Thứ hai, thứ ba !” Tiên lùn ngừng giây lát chờ đợi người ta đáp lời. Tiên lùn lặp lại : “Thứ hai, thứ ba”. Chờ tiên lùn lặp lại 10 lần hai câu nói trên, gã mục đồng mới đánh bạo đáp lời “thứ tư”. Tiên lùn liền hát tiếp ba lần : “thứ hai, thứ ba”. Mỗi lần tiên lùn nói xong một câu, gã mục đồng đều đáp : “thứ tư”. Tiên lùn cười rộ, vỗ tay ra hiệu, tức thì trong các ngách sỏi đá ở khe nước xuất hiện một đoàn tiên lùn khác. Một tiên lùn hỏi gã mục đồng thích muốn điều gì ? Mục đồng trả lời xin một chuông nhỏ vì bò của gã vừa rơi mất chuông. Tiên lùn cười khì, cầm chiếc mũ đỏ trên đầu vứt vào khe nước rồi cùng đoàn tiên lùn biến mất. 

Bỗng gã mục đồng nghe trong lùm cây trước mặt tiếng nhạc rổn rảng và nhìn thấy con bò của gã nơi cổ đeo tòn ten một chiếc chuông vàng. Từ hôm được chuông vàng, bầy bò của gã mục đồng sinh sôi nẩy nở đầy đàn. Gã trở nên giàu có, giúp đỡ những người nghèo khó ; nhưng gã tuyệt nhiên bưng bít câu chuyện chuông vàng, sợ người ta kéo đến quấy rầy các chú tiên lùn. 

Thiện Chí nghiêng tai bên giòng thác thử nghe tiếng nước reo trong sỏi đá có gì khác thường chăng ! 

- Sao Bạch Huệ không nói lên những câu thần chú để gọi các tiên lùn ? 

- Mấy lúc này tôi có gì để ước nguyện đâu mà phải cầu khẩn tiên lùn, nhưng bây giờ tôi có mối ân hận nan giải cần các tiên lùn giúp đỡ. 

- Chuyện gì phiền muộn trong lòng Huệ lại giấu tôi ? Nếu tôi không đủ sức giúp đỡ, ba tôi sẽ thỏa mãn Huệ, vì ba tôi quí mến Huệ lắm. 

- Tôi nói ra chắc Thiện Chí không còn cảm tình với tôi nữa ! 

- Tôi chẳng là bạn chí thân của Bạch Huệ hay sao ? 

Nhưng Bạch Huệ vẫn lắc đầu yên lặng, đôi mắt nhìn vào cõi xa xăm tưởng nhớ đến một kỷ niệm chua chát mà Hùng Tâm để lại, khiến em không bao giờ quên. 

Thiện Chí chắc hẳn điều ước nguyện của Bạch Huệ quan trọng lắm nên mới giữ kín trong lòng, chớ đâu phải như điều ước nguyện tầm thường của mình chỉ thỉnh cầu tiên lùn một chiếc xe hoặc một ngựa con. 

- Chúng ta có thể nhờ tiên lùn cất mọi nỗi ưu tư sầu muộn. Hãy lắng tai nghe, nếu quả tiếng nói tiên lùn, chúng ta cùng nhau đồng thanh đáp ứng, chắc tiên lùn sẽ xuất hiện. Chúng ta sẽ cầu khẩn tiên lùn một ân huệ. 

Bỗng nhiên Bạch Huệ và Thiện Chí nghe rõ mồn một vang lên trong sỏi đá những câu thần chú : “Thứ hai, thứ ba ! Thứ hai, thứ ba ! Thứ hai, thứ ba !” Những tiếng nói ấy ngừng giây lát rồi tiếp tục vang lên. 

Thiện Chí nắm chặt bàn tay Bạch Huệ, rồi hai đứa mạnh dạn đáp lời : “Thứ tư”. 

Nhưng chẳng thấy vật gì hiện ra. Trên làn nước trong xanh từ thác chảy xuống không mảy may lay động. Trải qua những giây phút chờ đợi hồi hộp, nhưng nào đâu thấy Tiên lùn xuất hiện. Hai đứa lập đi lập lại ba lần câu nói : “Thứ tư, thứ tư”. 

Bỗng nghe tiếng động sột soạt sau lưng, Thiện Chí quay đầu lui hét lên kinh hãi, cuống quít níu tay Bạch Huệ cùng chạy. Cách đó chừng vài thước, một con rắn to xuất hiện. Thân hình rắn đen thui tợ mun, trên đầu dính máu bê bết, đuôi rắn cũng mang vết thương dài rướm máu. Rắn cất đầu lên không nổi, đôi mắt mất tinh thần, miệng há hốc, thè lưỡi ra nứt nẻ đưa qua đưa lại. 

Hai đứa nhỏ kinh hoàng khiếp đảm. Rắn từ ngả nào bò đến ? Làm sao rắn xuất hiện gần chúng mà tuyệt nhiên không hề nhìn thấy, không hề nghe tiếng ? Ai đã đánh nó thành thương ? Phải chăng nó đến cầu cứu hai đứa nhỏ ? 

Thiện Chí nhặt một cành cây nhìn Bạch Huệ : 

- Hãy hất nó vào thác nước ! 

Sau khi quan sát kỹ càng, Bạch Huệ thì thầm bên tai Thiện Chí sợ rắn hiểu tiếng người : 

- Hãy xem, rắn nầy kỳ lạ lắm ! Thân hình sáng ngời như kim khí. Một miếng thịt vàng khè nổi trên đầu hình dáng chiếc vương miện. Đâu phải rắn tầm thường ! Đừng làm hại nó, hãy giúp rắn hàn gắn vết thương. 

Bạch Huệ đến bên thác nước, lượm ngọn lá to cuộn tròn lại, múc ít nước đổ lên đầu rắn. Rắn đưa lưỡi táp những giọt nước từ từ chảy xuống đầu nó. 

- Anh hãy đứng đây canh chừng. Tôi chạy về nhà kiếm sữa và một cái chậu. Phải tìm cách cứu sống nó. Tôi tin tưởng nó là rắn thần, chớ không phải rắn thường đâu ! Tôi trở lại ngay. Thỉnh thoảng anh cho nó uống nước. 

Thiện Chí cầm cành cây to đứng canh chừng rắn, trong lòng nghi hoặc lời nói Bạch Huệ, nhưng cũng tò mò đợi xem phản ứng của rắn ra sao ! 

Mặc dầu trời nóng bức, sức khỏe yếu đuối, nhưng Bạch Huệ chạy nhanh về lâu đài và sau nửa tiếng đồng hồ đã mang ra một bình sữa, một cái muỗng, một chậu nhỏ bằng sành và hai kẹp sắt.

- Làm gì với những vật nầy ? 

- Rồi anh xem, vật nào cũng hữu dụng. Chúng ta không thể để rắn nằm đây, ai thấy nó sẽ đập chết. Dưới gốc cây sên, có một hốc cây rất thuận tiện cho rắn nằm dưỡng bệnh. Chúng ta đem nó bỏ vào gốc cây, dầm đuôi nó vào chậu nước rồi cho nó uống một tý sữa. Tôi chắc rắn sẽ lành mạnh. Rắn thần xuất hiện nhất định liên quan đến các tiên lùn. 

Thiện Chí đâu dám bác bỏ ý kiến của Bạch Huệ, vì nó là dân thị thành sao am hiểu rành mạch vấn đề nầy bằng Bạch Huệ đã sinh trưởng lâu năm ở đồng quê rừng núi. Hai đứa đến moi móc những lá cây mục nát trong hốc cây đoạn nhét vào những cỏ tơ mềm mại. Còn việc khó khăn hơn hết : làm cách nào đưa rắn vào hốc cây ! Đến gần rắn để kẹp nó vào hai kẹp sắt, làm sao nó khỏi vùng vẫy mổ cắn. Hai đứa đi vòng quanh rắn nằm bất động giữa cỏ. Nhưng không thể chần chừ ! Đôi mắt rắn đã hết thần sắc, đầu mang thương tích, rắn nằm khoanh tròn thở thoi thóp, chốc chốc thè lưỡi ra khỏi miệng. 

Hai đứa đưa tay làm dấu thánh giá, hồi hộp cầm kẹp sắt kẹp rắn, nhưng thân hình rắn trơn nên rắn tuột xuống. Nhưng rồi, sau cùng chúng đã kẹp được rắn, chạy một mạch đến cây chuồi rắn trên đồng cỏ, bỏ vào chậu nước lã để ngâm đuôi rắn đang ri rỉ chảy máu. Bạch Huệ đổ sữa vào cái muỗng lớn đặt trước miệng rắn. Hai đứa ngồi trước gốc cây chờ đợi lo lắng. Nhờ nước mát thấm vào đuôi, rắn đã lần hồi tỉnh lại. Nó ngửi mùi sữa, khó khăn ngẩng đầu lên, thè lưỡi ra, lại yếu đuối gục đầu xuống đất. Rồi nó gắng gượng đưa miệng dầm vào muỗng sữa, chậm chạp uống từng hớp. Uống xong, rắn ngẩng đầu lên, đôi mắt sáng rực như hồng ngọc nhìn chăm chú Bạch Huệ, làn nhãn quan của rắn có gì khác thường khiến Bạch Huệ rùng mình như thể một luồng điện chạy khắp thân hình em. 

Bỗng mây đen tứ phía từ đâu ùn ùn kéo đến. Gió rung chuyển cây cối răng rắc. Đàn chim vỗ cánh bay xào xạc tìm nơi trú ẩn. Những làn chớp sáng loang loáng xé tan đám mây đen, rồi những hạt mưa bắt đầu thưa, sau càng nặng hột. Giây lát, trận mưa to trút xuống ào ào như thác đổ, phủ loà bầu trời một màu trắng đục. Mưa càng to, gió càng mạnh, chung quanh lâu đài nước chảy lai láng như một hồ rộng mênh mông. 

Thiện Chí và Bạch Huệ nín thở, chân không bén đất chạy một mạch về nhà, áo quần chỉ ướt chút đỉnh. Chúng bước vào phòng khách đã thấy Xuân Lan, Thu Cúc và Đỗ Quyên quây quần nói cười vui vẻ. 

Thiện Chí kể lại chuyện hắc xà hiện hình trong lúc Bạch Huệ đang cầu khẩn tiên lùn một ân huệ. Rắn thần xuất hiện ! Điềm lành hay dữ, ai nấy đều mong nghe Bạch Huệ phát biểu ý kiến, nhưng em lặng thinh, tâm hồn của em mơ mộng đâu đâu ! 

Ngày mai, trời quang mưa tạnh. Bạch Huệ, Thiện Chí nóng lòng chạy ra hốc cây thăm sức khoẻ hắc xà. Xuân Lan, Thu Cúc, Đỗ Quyên cũng đi theo Bạch Huệ, nhìn mặt rắn thần. Nhưng gần đến hốc cây, ba chị em Xuân Lan đứng xa xa nhìn tới, chỉ Thiện Chí và Bạch Huệ đến gần rắn thám sát tình hình. 

Rắn thần còn đó, nó chưa rời nệm cỏ êm ái trong hốc cây. Muỗng sữa hết sạch, chậu nước lã đen sì vì máu ở đuôi rắn chảy ra. Ba chị em Xuân Lan đánh bạo lại gần nhìn rắn cung kính sợ hãi : 

- Rắn thần đen ghê ! 

- Rắn thần to ghê ! 

Trên đầu rắn nổi lên miếng thịt hình dáng vương miện, chắc hẳn là xà vương. Bạch Huệ dùng hai kẹp sắt kéo cái muỗng ra đổ đầy sữa và thay một chậu nước sạch. Lúc đầu, rắn có vẻ sợ hãi vì trông thấy đông người, nhưng khi nhìn ra Bạch Huệ, rắn yên tâm uống sữa. 

Giây lát, bốn chị em Bạch Huệ đều phân tán vào rừng để rắn thần yên tĩnh dưỡng bệnh, thỉnh thoảng trở lui xem chừng rắn. 

Hai ngày đầu, xà vương nằm lỳ trong gốc cây. Nhờ Bạch Huệ ân cần săn sóc, nên vết thương trên đầu và đuôi rắn đã bình phục. Đến ngày thứ ba, đột nhiên rắn bò lần ra khỏi gốc cây, khiến bọn trẻ hoảng sợ chạy tản mát. Bạch Huệ vẫn bình tĩnh đứng lại nhìn rắn. 

Rắn uốn mình qua lại nhiều vòng như muốn thử thân hình còn mềm dẻo uyển chuyển không ? Đoạn rắn chậm rãi bò đi, thỉnh thoảng quay đầu lui như muốn rủ rê mời mọc Bạch Huệ cùng theo nó. Bạch Huệ cầm tay Thiện Chí cách quãng thủng thẳng bước theo rắn. Rắn thần bò đến gần một bụi cây rậm rạp, ngừng lại cuộn tròn thân hình, ngẩng cao đầu, thè lưỡi nhọn đỏ hỏn, đưa đôi mắt loè sáng nhìn Bạch Huệ. 

Thoạt nhiên Thiện Chí liên tưởng đến chuyện nhiệm mầu của Tiên lùn : 

- Tuồng như rắn chờ ta ước nguyện điều gì ? Hãy cầu xin rắn thần một ân huệ. 

Nét mặt bừng nở một tia hy vọng, Bạch Huệ do dự giây lát đoạn quỳ gối xuống đất, hai tay đưa lên trời, thành kính cầu khẩn : 

- Rắn thần, truyền lệnh Hùng Tâm trả lại vĩ cầm. Hãy ban tôi ân huệ ấy. 

Rắn thần ngẩng cao đầu đưa qua đưa lại, đôi mắt sáng ngời như hai hạt kim cương. Miếng thịt trên đầu rắn thần nổi phồng lên giống vương miện. Lúc nầy, trông hình dáng xà vương thực ngạo nghễ oai vệ khác thường ! Đoạn rắn thần thè lưỡi đỏ như huyết, huýt một tiếng dài như tiếng sáo đồng, hạ thấp đầu xuống, chồm tới phía trước, lủi lần vào bụi rậm mất hút. 

Bạch Huệ đứng ngẩn ngơ hồi lâu nhìn theo rắn thần luyến tiếc như thể đánh mất một vật quý giá. 

Bạch Huệ, Thiện Chí và các chị em Xuân Lan kéo nhau trở về lâu đài, bên tai còn văng vẳng âm thanh tiếng huýt gió của rắn thần.



*



Sáng mai, một chiếc xe song mã ngừng trước lâu đài. 

Bạch Huệ càu nhàu hỏi cô Giạ Hương : 

- Lại khách nào đó nữa ! 

- Một ông khách lạ đem theo một chú nhỏ. Mới vào nhà, ông khách đã hỏi thăm sức khỏe em. 

- Ai hỏi em thế kìa ! 

- Chú nhỏ cùng đi với ông khách cũng nói đến đây tìm Bạch Huệ. Họ đang ngồi chuyện vãn tại phòng khách, Thiện Chí cũng có mặt với ông bà Thiện Căn. Em lên mau, kẻo ba má đợi. 

Bạch Huệ miễn cưỡng nối gót cô Giạ Hương, mặt không kịp rửa, tóc bù rối dính đầy cọng rơm. Em đứng ngập ngừng bên cửa nhìn vào phòng khách, dáng điệu rụt rè ngơ ngác, khiến mọi người không thể nín cười. Nhưng chú nhỏ theo ông khách lại không cười, tỏ vẻ xúc động khi nhìn thấy Bạch Huệ. Da dẻ sạm nắng, đôi mắt đen nhánh, chú nhỏ đứng nép bên ông già tóc bạc hoa râm. Bạch Huệ gặp làn nhãn quan nồng nhiệt của chú nhỏ khiến em không thể nhìn lâu ; và khuôn mặt ngổ ngáo nhưng dịu hiền nầy em đã từng thấy đâu, nay trí nhớ em lại quên lửng. 

Bỗng từ buồng phổi em phát ra hai tiếng mãnh liệt : 

- Hùng Tâm. 

Em nhìn thấy một vật gì hình dáng dài bọc trong miếng vải hồng đặt trên đầu gối ông khách già. Niềm vui sướng vô tả làm em buột miệng hét lớn : 

- Vĩ cầm. 

Em đứng giữa gian phòng hai tay chụi mắt nhìn kỹ có phải vật đó là chiếc vĩ cầm hay là một giấc chiêm bao ! Em bước đến gần ông già đưa tay sờ mó chiếc đàn. Em không muốn khóc, nhưng em nghẹn ngào tự nhiên nước mắt tuôn trào. Những giọt lệ giải thoát một nỗi uất ức chồng chất bấy lâu. 

Hùng Tâm đến sát bên Bạch Huệ, cảm động không nói nên lời. Ông khách tóc hoa râm nở nụ cười hân hoan cởi mở như đã thỏa mãn một việc đẹp đẽ tốt lành. 

Ba má Bạch Huệ vội vàng hỏi con : 

- Chuyện gì thế hở con ? 

Ông già đỡ lời : 

- Hùng Tâm đem trả vĩ cầm đã đánh cắp của Bạch Huệ. Hùng Tâm, con đến thưa đầu đuôi câu chuyện để ông bà rõ. 

Hùng Tâm kể lại mọi việc : lúc Bạch Huệ giải thoát ra khỏi nhà xe, lúc Bạch Huệ cho mượn vĩ cầm, lúc cướp đàn và hành hung Bạch Huệ vân vân… 

Đến lượt ông khách tiếp nối Hùng Tâm kể niềm tâm sự. Tuổi đã già lại không con, ông thích âm nhạc, mến nhạc sĩ. Ông từng du lịch khắp nơi. Cách đây vài mươi dặm, ông có ngôi biệt thự đồ sộ mà hằng năm ông đến trú ngụ độ vài ba tháng. Mùa xuân mới rồi, sau một chuyến du lịch từ xa về, ông dừng chân lại một thị trấn. Ông dạo xem phố xá, tình cờ gặp một chú nhỏ đang kéo vĩ cầm kiếm tiền ở vỉa hè. Ông đem nhạc sĩ tí hon về khách sạn cho ăn uống no nê và bảo kéo đàn ít bản nghe thử. 

- Trong đời tôi đã nghe nhiều tiếng đàn, nhưng thực chưa có tiếng đàn nào làm rung động bằng tiếng đàn của thằng bé man dại nầy. Quả tiếng đàn thiên phú, trong âm điệu tiết tấu chứa đựng một tâm hồn chân nghệ sĩ. Hỏi nó không cha không mẹ, tôi đem nó theo và sau vài tuần lễ sống chung, chúng tôi đồng ý rằng định mệnh đã ràng buộc với nhau một già một trẻ. Hùng Tâm, con vua du mục, nhạc sĩ tý hon, từ nay mang dòng họ tôi và chắc nó cũng không hối tiếc. Nó đem đến cho tuổi già tôi một niềm an vui, còn tôi phải bao bọc nuôi nấng nó suốt đời, không để nó thiếu thốn một thức gì. 

Để tỏ lòng biết ơn cha nuôi, Hùng Tâm trìu mến hôn tay ông già. Ba má Bạch Huệ không ngờ chú bé lễ độ, y phục sạch sẽ trước mặt lại là tên du mục đen đủi nhơ bẩn trước đây đã bị giam trong nhà xe. 

Ông khách già đến ôm Bạch Huệ lộ vẻ cảm động : 

- Tôi và Hùng Tâm không bao giờ quên em đã giúp đỡ nó. Chúng tôi sắp đi du lịch nơi xa, mong em nhận vật kỷ niệm nầy để chứng tỏ tình bằng hữu thân mật giữa em và Hùng Tâm. 

Ông lấy trong hộp ra một sợi dây chuyền vàng đính chiếc thánh giá đeo vào cổ Bạch Huệ. 

Châu về hợp phố, Bạch Huệ đem chiếc vĩ cầm cất vào tủ bà nội, chiếc đàn không ai ngờ đã phiêu bạt giang hồ khắp nơi, nay trở về cố chủ. Ba má Bạch Huệ không nỡ la mắng em và bây giờ má em mới rõ nguồn cơn vì sao mấy tháng nay em buồn phiền mất ăn mất ngủ. 

Ông bà mời hai cha con Hùng Tâm ở lại dùng cơm trưa cùng gia đình. 

Cơm xong, Bạch Huệ rủ Hùng Tâm vào rừng dạo chơi. Từ hôm tiếng độc tấu vĩ cầm vang lừng nơi rừng rú, lần đầu tiên hai trẻ lại gặp nhau. Bạch Huệ không quên kể Hùng Tâm nghe câu chuyện Tiên lùn và rắn thần đã giúp đỡ thâu hồi vĩ cầm. Em kết thúc : 

- Thật chẳng khác một chuyện thần tiên ! 

Hùng Tâm rút trong túi áo một hộp nhỏ, rụt rè trao Bạch Huệ : 

- Phần riêng tôi, xin tặng Bạch Huệ một vật lưu niệm. Nhờ chiếc vĩ cầm của Bạch Huệ, tôi kiếm ra tiền và với tiền đó tôi đã mua vật này. Huệ hãy giữ lấy để nhớ tiếng đàn của tên du mục Hùng Tâm. 

Nó mở hộp, Bạch Huệ nhìn thấy một búp bê : thằng mọi con nhỏ bằng ngón tay, tóc đen nhánh, mặc áo màu sặc sỡ. 

Bạch Huệ vỗ tay reo mừng vì em chưa bao giờ thấy một búp bê ngộ nghĩnh lạ lùng như vậy. Em thích mọi con nầy hơn sợi dây chuyền thánh giá sáng loè đeo nơi cổ. 

- Cảm ơn Hùng Tâm, Huệ không bao giờ rời nó. 

Đến chiều, hai cha con Hùng Tâm từ biệt ba má Bạch Huệ, nhắc nhở luôn luôn tấm lòng quí hoá hiếm có của em.
________________________________________________________________________________ 
Xem tiếp CHƯƠNG VI

CHƯƠNG IV_LÂU ĐÀI THẦN TIÊN

IV

THÊM NGƯỜI BẠN MỚI


Trong số trẻ nhỏ những gia đình về nghỉ hè gần lâu đài họ Nguyễn, có Thiện Chí, con một thương gia giàu có ở đô thành. Con trai độc nhất, Thiện Chí được cha mẹ nuông chìu nên hư thân mất nết. Nó đĩnh ngộ tợ thiên thần, nhưng xấc xược hơn quỷ sứ. Thiện Chí từng ngự trị trên cả bầy trẻ con quanh vùng, mặc dầu có đứa lớn tuổi hơn nó. Món chơi nào cũng thông thạo và bao giờ cũng dẫn đầu, nó có biệt tài tổ chức đủ trò chơi, nên cả bọn đều phục lăn và vì thế Thiện Chí đã hiếp đáp chúng bạn theo nó. 

Thiện Chí chưa hề quen biết Bạch Huệ, nhưng đã nghe phong thanh trong lâu đài họ Nguyễn có em bé ngơ ngác thường rong chơi với nai vàng trong rừng núi. Một hôm, tình cờ Thiện Chí gặp Bạch Huệ trong một trường hợp cực kỳ bi đát. 

Cạnh khu rừng, một khe nước chảy ngang dưới chiếc cầu gỗ hẹp. Bạch Huệ đang ngồi trên cầu mơ mộng nhìn làn nước chảy uốn quanh co các ngách sỏi đá. Một đứa con trai nhỏ bước đến gần cầu, hai tay chống trên nạng gỗ, một chân nguyên vẹn, còn chân kia cụt mất nửa đoạn dưới tháp bằng khúc gỗ. Bạch Huệ nhìn em nhỏ động mối thương tâm : 

- Em thích nhìn nước chảy ? 

- Vâng, nhưng đứng trên cầu nhìn xuống mới thấy đẹp ! Em không dám lên cầu, vì đôi chân em kềnh càng quá ! 

- Đến đây chị dắt lên. Dầu em mang đôi nạng, chiếc cầu vẫn còn rộng chán. 

Bạch Huệ đưa tay đỡ em nhỏ bước lên giữa cầu cùng em ngắm làn nước trong xanh từ trên thác đổ xuống. 

Nó lộ vẻ sung sướng : 

- Nhà chị gần đây hả ? Em đều biết mặt bọn trẻ quanh vùng, nhưng em chưa hề gặp chị. 

- Chị ở trong lâu đài đàng kia. Em không biết chị, vì chị ít chơi cùng bọn trẻ khác. 

- Sao vậy chị ? 

- Chẳng sao cả ! Chị không thích chơi ! 

- Sao lại không thích. Nếu chân em lành mạnh như chị em rong chơi suốt ngày. 

- Chân em sao vậy ? 

- Em té từ trên bức thành cao. Đã 5 năm nay, đi đâu em phải chống đôi nạng. 

Bỗng nghe tiếng xôn xao náo động như tiếng bầy ong vỡ tổ. Một đoàn trẻ con hấp tấp chen lấn giành nhau ưu tiên qua cầu để tiến vào rừng. Tay cầm roi da, Thiện Chí dẫn đầu hùng dũng oai vệ như viên tướng soái cầm quân xông pha trận mạc. Nó dõng dạc truyền lệnh : 

- Tiến lên, ai vượt qua cầu đến bờ suối trước tiên được giải thưởng. 

Đứa bé sợ hãi ôm chặt vai Bạch Huệ : 

- Chị ơi ! Nếu chúng chen lấn chạy lên cầu, chắc chắn em rớt xuống nước. 

- Em đừng sợ, có chị đây ! 

Bạch Huệ đứng giữa cầu, giang đôi cánh tay chận ngang Thiện Chí : 

- Không ai được tiến bước. Em nhỏ này chống bằng nạng, đợi em đi khỏi cầu, các anh mới vượt qua. 

Thiện Chí hùng hổ : 

- Mặc kệ, chúng ta không có thì giờ chờ đợi. Hãy tiến lên ! 

Bạch Huệ không lùi bước, đứng chấn ngang trước cầu hẹp, không để Thiện Chí và đồng bọn lướt qua. 

- Con nhỏ nầy táo gan thực ! Đứng dẹp một bên để đoàn quân ta tiến bước. Thực xứng đôi : thằng nhỏ què quặt với con bé ngơ ngác ! 

Bạch Huệ giận tái mặt. Trong gia đình, người ta có thể chế giễu em bằng danh từ “ngơ ngác”, nhưng một đứa lạ mặt hỗn xược với em như thế, không thể tha thứ. Nó còn dùng tiếng “què quặt” chế nhạo em bé tàn tật. 

Bạch Huệ quắc mắt nhìn Thiện Chí thách đố : 

- Sao mầy dám gọi ta ngơ ngác ? Còn chế giễu em bé tật nguyền không biết hổ thẹn sao ? 

- Mầy nói gì ? Nói lại thử nghe ? 

- Nói gì chắc mầy đã nghe rõ ! 

- Sức mấy, tao đâu ngán mầy ! 

- Tao cũng cóc sợ mầy ! Bây giờ em nhỏ đã vượt qua cầu khỏi sợ té bổ, tha hồ chúng bây muốn đi đâu, cho đi tự do. 

- Tao để lại mầy ít vết tích làm kỷ niệm. 

Sẵn roi nơi tay, Thiện Chí quất vào mặt Bạch Huệ. Em giựt được roi vứt xuống khe nước. Gặp sức kháng cự bất ngờ ở một bé gái, Thiện Chí chạm lòng tự ái và hổ thẹn trước chúng bạn, nên nó không nén cơn giận dữ, lấy thanh tre nơi tay bạn nó, vụt lia lịa vào vai, vào cổ Bạch Huệ. 

Đôi mắt đỏ ngầu, miệng cười ngạo nghễ, Bạch Huệ khoanh hai tay trước ngực, chịu đựng không thèm chống đỡ những làn roi vi vút không ngớt giáng xuống thân hình em. 

Xuân Lan đứng hái hoa gần đó, nghe tiếng trẻ con la ó, chạy vội đến rẽ đám đông, giành lấy thanh tre trên tay Thiện Chí và ôm Bạch Huệ khóc nức nở. Bọn trẻ nhỏ đều há hốc mồm sửng sốt trước hành vi bạo tàn của Thiện Chí, chúng đứng vây quanh hai chị em Bạch Huệ, cảm xúc chẳng nói nên lời, còn thằng nhỏ tàn tật chống tay trên nạng nhắm nghiền đôi mắt cũng ứa hai hàng lệ. 

Hối hận và hổ thẹn vì đã hành hung bé gái yếu đuối không tự vệ, Thiện Chí cũng thấy ngượng nghịu, đút hai tay vào túi quần, cúi gầm mặt xuống đất. 

Bọn trẻ con nối đuôi Bạch Huệ đến tận lâu đài, một vài đứa tìm lời an ủi Bạch Huệ : 

- Nó sẽ bị trừng trị đích đáng. Mặc dầu cha mẹ nó cưng chìu, nhưng nếu biết chuyện nầy, cha nó không bao giờ tha thứ. Ông rất cương trực, nghiêm khắc, sẽ đánh và giam nó hàng tuần không cho ra khỏi nhà. 

Hai chị em Bạch Huệ vừa bước vào cửa, vú già trông thấy máu chảy ở vai, cổ Bạch Huệ hoảng hốt la lên, má Bạch Huệ từ trên gác chạy xuống sửng sốt : 

- Trời ơi ! Cái gì vậy hở con ? 

- Từ trên cao con té xuống thác nước, va chạm đá nhọn nên trầy da chảy máu. Má đừng lo, không có gì trầm trọng đâu ! 

Xuân Lan lặng thinh không cải chính lời nói Bạch Huệ. Má em và cô Giạ Hương kiếm rượu rửa sạch vết thương và xức thuốc cho Bạch Huệ. 

Đến tối, nằm trên giường ngủ, đôi mắt rớm lệ, tay ôm bé Quê, em đau đớn rên rỉ : 

- Trời ơi ! Đau ghê ! Nhức nhối quá chừng ! 

Trong lúc ấy, tại biệt thự ông Thiện Căn, ngồi trước bàn ăn, Thiện Chí ngơ ngác như hồn vía lên mây, tay cầm nĩa chẳng màng đụng đến miếng thịt rán trên đĩa. 

- Con đau hay sao ? Thịt bít tết với khoai rán, món sở thích của con mà con chê à ! 

Thấy con làm thinh không đáp, bà mẹ đưa mắt lo lắng nhìn chồng. Tay vân vê hàm râu quai nón, ông Thiện Căn liếc mắt nhìn con ngồi ủ rũ trên ghế, vẻ mặt không vui tươi như mọi ngày. Phút chốc hàng mi chớp chớp, những giọt nước mắt đọng từ lâu không giữ nổi chảy xuống lan tràn đôi má Thiện Chí. Ông đoán đã có việc gì xảy ra. 

- Chuyện gì thế ? Nói thật ba nghe ! 

Thiện Chí oà lên khóc nức nở, kể lại đầu đuôi câu chuyện không chút thêm bớt. 

- Thật khả ố ! Con nỡ đánh một bé gái không tự vệ. Người ta nói em nhỏ yếu đuối lại mắc bệnh đau tim. Con thực tàn nhẫn, mất dạy. Mau lên đi theo ba đến lâu đài họ Nguyễn để tạ lỗi. 

Thiện Chí lau nước mắt, chạy tìm mũ theo cha , nhưng vừa ra khỏi phòng, nó chạm trán hai thằng bạn lấm la lấm lét đến tìm nó. 

- Chuyện gì thế ? 

- Mầy biết không con Bạch Huệ kể với gia đình nó vì té xuống thác nên gây thương tích chớ không phải mầy đánh nó. Mầy khỏi thú thật với ba mầy. 

Chợt thấy ông Thiện Căn, hai đứa bạn của Thiện Chí lánh mặt. Ông hỏi Thiện Chí tụi bạn mầy còn đến hỏi mầy việc gì nữa. Thiện Chí đành thưa thật với cha : 

- Bạch Huệ không nói bị hành hung lại nói té xuống thác nước. 

- Thế là tánh kiêu ngạo và tàn bạo của mầy đành chịu thua một đứa gái yếu đuối nhưng tâm hồn cao thượng. Tao không còn phương sách nào khác. Bây giờ cũng không có lý do gì để đến lâu đài họ Nguyễn xin lỗi cha mẹ Bạch Huệ. Trong lúc chờ đợi bàn tính với mẹ mầy, mầy không được ra khỏi phòng. 

Lòng tự ái bị tổn thương, lương tâm hối hận, Thiện Chí sượng sùng bối rối, đôi mắt ngó xuống đất, không dám ngẩng mặt nhìn cha. 

Câu chuyện bí mật ở lâu đài không giữ kín được lâu. Tin Bạch Huệ bị đả thương loan truyền trong nhóm trẻ con rất nhanh chóng. Xuân Lan rỉ tai Thu Cúc mách má, bà kể lại ông nghe. Mọi người đều tức giận hành động vô luân của Thiện Chí, nhưng chẳng một ai dám hở môi, sợ làm xúc động Bạch Huệ tổn hại đến sức khoẻ em. 

Suốt một ngày nằm tĩnh dưỡng trên giường Bạch Huệ đã ngồi dậy, nhưng vết thương còn đau đớn nhức nhối. 

Sáng nay trời tạnh nắng, em gắng gượng thủng thẳng cùng nai vàng dạo chơi ở vườn sau lâu đài. Em bước đến ngồi sưởi nắng trên gốc cây đại thọ đã đốn ngã nằm giữa đất, nai vàng đứng gặm cỏ bên em. Thu Cúc đem đến một thanh tre nhờ Bạch Huệ làm giùm một chiếc cung. Bạch Huệ đang hý hoáy với thanh tre chưa biết xoay sở cách nào, đột nhiên em nhìn thấy Thiện Chí từ từ bước lại gần em. Hai tay bỏ vào túi quần, dáng điệu rụt rè ngượng nghịu, nó nhìn Bạch Huệ muốn nói điều gì, nhưng lắp bắp trong miệng nói không thành tiếng. 

Bạch Huệ phá tan bầu không khí nặng nề yên lặng : 

- Tôi đang vót tre làm cung, nhưng dao lại đùi quá. 

- Tôi sẵn dao sắc bén đây. Đưa thanh tre, tôi làm giùm cho. 

Bạch Huệ trao thanh tre cho Thiện Chí, ngồi nép một bên, nhường chỗ để Thiện Chí ngồi trên gốc đại thọ. Nó hăng say công việc, cầm dao đẽo gọt thanh tre theo hình dáng tròn, chuốt nhỏ bằng ngón tay, đoạn nối ngang hai đầu một sợi dây. Thế là hoàn thành chiếc cung. 

Thiện Chí lần lượt vót thêm mười tên tre để lắp vào cung. Bạch Huệ say sưa chăm chú nhìn Thiện Chí làm xong cung tên, tỏ vẻ thán phục : 

- Anh khéo tay quá ! Tôi yếu tay lại vụng về, nên dầu cố gắng cũng chẳng làm xong, chuốt đi chuốt lại một khúc tre không bao giờ trơn tru. 

Thiện Chí rút trong túi áo một tấm bìa cứng cắt ra nhiều miếng nhỏ theo hình quả tim, nó kẹp trước mỗi mũi tên một miếng bìa nhỏ, lắp tên vào cung giương lên bắn thử một phát. Mũi tên bay vút rơi xuống đất cách đó mười thước. 

Bạch Huệ vỗ tay reo mừng : 

- Trò chơi tuyệt diệu. Để tôi đi kiếm Xuân Lan, Thu Cúc cùng chơi. Chúng ta đặt một cái đích, ai bắn trúng nhiều mũi tên vào đích sẽ được giải thưởng. Nhưng hôm nay tôi còn mệt, e chơi không nổi. 

Đến đây Bạch Huệ ngập ngừng không nói tiếp, sợ Thiện Chí đoán biết vết thương của em chưa lành. Nhưng Thiện Chí đã đánh bạo ngỏ lời : 

- Tôi biết vết thương Huệ chưa lành, nên hôm nay tôi đến xin lỗi Huệ về chuyện đáng tiếc hôm ấy. 

Bạch Huệ đưa tay khoát lia lịa : 

- Việc gì đã qua cho qua, đừng nhắc đến. Tôi chẳng còn nhớ gì nữa ! 

- Nhưng làm sao tôi quên được. chuyện ấy ghi mãi vào tâm khảm tôi. Tôi đem đến tặng Bạch Huệ một vật mà tôi quí mến nhất. Nếu Bạch Huệ vui lòng nhận, mới chứng tỏ Bạch Huệ đã quên hẳn chuyện cũ, không còn giận hờn tôi. 

Nói xong, Thiện Chí lấy trong túi áo một viên thủy tinh tròn to bằng nắm tay, trong viên thủy tinh có cái nhà nho nhỏ đủ cửa lớn, cửa sổ và cây cối bao bọc quanh nhà. Phía trước ngôi nhà, một con đường nhỏ rải sỏi đá. Một ông lão tý hon mặc áo kẻ ô vuông, cổ choàng khăn đỏ, mang kính trắng, miệng ngậm ống điếu, tay chống ô đen, đang đi bách bộ trên đường lát sỏi. 

Thiện Chí cầm viên Thủy tinh lắc lắc : bỗng nhiên gió chuyển rung cây cối, tuyết rơi lả tả lấp kín cả ngôi nhà, cây cối lẫn lão già. Thiện Chí lại lắc viên thủy tinh lần thứ hai : tuyết tan dần, nhà cửa cây cối lại xuất hiện với ông già ung dung ngậm ống điếu. 

Bạch Huệ bắt chước Thiện Chí cầm viên thủy tinh lắc thử : nhà cửa vùi lấp dưới tuyết ; em lắc lần nữa : lão già xuất hiện như cũ. 

- Vật kỷ niệm này sẽ khiến Huệ vui lòng, hãy giữ lấy. Ở đây tôi chẳng có cái gì đẹp hơn, trên tỉnh tôi sẵn một tủ đầy đủ đồ chơi, nhưng về nghỉ hè nên không đem theo. 

- Tôi cất vật này ba má anh có bằng lòng không ? 

- Sau chuyện đáng tiếc xảy ra trên cầu, việc gì đối với Huệ, ba má tôi đều không từ chối. Hiện nay ba má tôi đang ngồi trò chuyện ở lâu đài, bảo tôi ra đây tìm Bạch Huệ. 

- Ủa, anh kể sự thật với ba anh rồi à ! Tôi lại nói dối với ba má tôi. 

- Nếu hành động điều gì lầm lỗi, tôi thú thật với ba tôi. Nếu tôi giấu giếm không nói ra, lương tâm chẳng bao giờ yên ổn. Chẳng thà chịu ngay hình phạt, còn hơn mang trong lòng một mối hận khôn nguôi. 

Lời nói Thiện Chí vô tình nhắc nhở đến chuyện mất vĩ cầm còn mãi ám ảnh Bạch Huệ khiến em lộ vẻ u buồn. Hùng Tâm đã cao chạy xa bay từ lâu mà đến nay em chưa đủ can đảm thú thật với gia đình. Em muốn như Thiện Chí thà em cam tâm chịu mọi sự trừng phạt, còn hơn canh cánh bên lòng nỗi hối hận dằng dai. 

Đột nhiên Bạch Huệ đưa tay nắm tay Thiện Chí : 

- Tấm lòng anh tốt hơn tôi. Từ nay chúng ta kết bạn thân. 

Thiện Chí không ngờ Bạch Huệ rộng lòng tha thứ nhanh chóng hành động bỉ ổi của mình. Nó ngạc nhiên vui sướng vô cùng trước mối cảm tình bộc phát của Bạch Huệ. 

- Tánh nết Huệ lạ kỳ, tôi chưa bao giờ từng thấy ! 

Biến cố trên cầu đã kết thúc vui vẻ. Cha mẹ Bạch Huệ sẵn lòng tha thứ hành vi nông nổi của Thiện Chí và mời ông bà Thiện Căn ngồi nán lại lâu đài dùng trà nước. Mấy chị em Bạch Huệ vui đùa trò chơi cung tên do Thiện Chí tổ chức. Đến tối, mọi người chia tay ra về trong niềm hân hoan thích thú. 

Lúc từ giã, Thiện Chí cầm tay Bạch Huệ lưu luyến : 

- Huệ là một em gái dị kỳ, nhưng là một người bạn quí hoá.
________________________________________________________________________________ 
Xem tiếp CHƯƠNG V

CHƯƠNG III_LÂU ĐÀI THẦN TIÊN

III

THẰNG BÉ DU MỤC

Đời sống vẫn trôi qua bình thường ở lâu đài họ Nguyễn. Từ nay ba chị em Xuân Lan có thêm bạn mới đã từ bỏ hết mặc cảm để vui sống với gia đình. 

Tùng tùng xèng… tùng tùng xèng… Tò le tý le… Tò le tý le… 

Tiếng kèn trống ồn ào, giọng ca hát ầm ỹ. Một đoàn người du mục đã xuất hiện trước sân lâu đài. Một ông lão, tướng mạo oai vệ, tóc bạc trắng xoá, hướng dẫn đoàn, tiếp theo là một chú lùn dắt một con khỉ mặc áo xanh đội mũ đỏ. Đoàn du mục gồm thêm một số đàn ông, đán bà, trẻ có già có, mang theo những gói quần áo. Vài mụ đai thêm con nhỏ trên lưng. Một số trẻ con áo quần dơ dáy, rách nát gần như trần truồng, ngửa bàn tay xám xịt dính đất cát : 

- Ông bà bố thí cho ít tiền. 

Cuối cùng đoàn du mục, là một bà già khuôn mặt răn reo dị hình dị tướng, chỉ còn đôi mắt sáng, tay dắt đứa nhỏ trạc chừng 12 tuổi mặc chiếc áo dài. Đứa nhỏ đứng với bà già riêng biệt một nơi không chung lộn với đoàn du mục, dửng dưng chẳng ngửa tay xin tiền như bọn trẻ con hành khất khác. 

Lão già du mục cúi đầu chào : 

- Chúng tôi từ xa đến, xin bà ban cho trẻ nhỏ ít bánh sữa, kẻ già cả ít tiền bạc. Chúng tôi đoán tương lai vận mệnh cho bà rồi sẽ đi ngay. 

Trong lúc khỉ con nhảy múa làm trò theo điệu đàn phong cầm của chú lùn, bọn du mục ùa vào các phòng ốc trong lâu đài xin các thức ăn và tiền bạc. 

Bỗng mụ già dắt đứa nhỏ đến trước mặt Bạch Huệ nhìn em say đắm : 

- Em bé dễ thương quá, đưa bàn tay để già An Gia này đoán tương lai vận mệnh cho. 

Bạch Huệ còn do dự, mụ già đã cầm lấy tay em và sau khi nhìn qua, mụ quỳ ngay xuống đất trước mặt em lộ vẻ vui mừng tột độ : 

- Công chúa của mụ đây. Bàn tay có ba ngôi sao ! Chính nhờ em sau này cháu mụ sẽ có uy danh quyền lực, sẽ có hạnh phúc đầy đủ. Mặc dầu con vua du mục, nhưng nó phải làm nô lệ em. Ba ngôi sao trong bàn tay ! Quí hoá quá, trời ơi ! 

Nói xong, mụ già lại đập đầu xuống trước mặt Bạch Huệ. 

Với giọng nói rắn rỏi đanh thép, thằng nhỏ vỗ vai mụ già : 

- Đứng dậy, An Gia. 

Xây qua Bạch Huệ, nó tiếp lời : 

- Cô đừng sợ ! Mụ này là bà nội tôi đó, tên gọi An Gia. Mụ đã mất trí khôn, nhưng hiền lành chẳng hề làm hại ai. Gặp người nào, mụ cũng tìm xem trong bàn tay thử có ba ngôi sao chăng vì mụ tin rằng tương lai vận mệnh tôi ở trong bàn tay người nào có ba ngôi sao. 

Giọng quát tháo của ông đã vang lên từ ngoài ngõ. Vừa bước vào nhà, ông đã vội vàng lùng khắp các phòng để mời dân du mục ra ngay khỏi lâu đài, vì ông đã từng nghe nói bọn này đi ngang qua nơi nào thì nơi đó bị mất cắp đồ đạc tiền của. Ông bố thí cho lão trưởng đoàn một số tiền và thuốc hút để phân phát cho đoàn du mục, rồi nhã nhặn mời họ rời gấp nơi đây. 

Mụ An Gia lưng còng sấp, tay vịn vai thằng nhỏ bước ra khỏi cửa, mặt còn ngoảnh lại, đưa hai tay hướng về Bạch Huệ cầu khẩn : 

- Ba ngôi sao trong cánh tay, công chúa ơi ! Hãy thương hại cháu mụ, đừng quên nhé. 

Cánh cửa lâu đài vừa khép, đã nghe trong nhà vang lên tiếng nói mất mát đồ đạc : cái nồi to tướng ở nhà bếp không cánh mà bay, quần áo của bé Út phơi trên dây thép cũng biến đâu tìm chẳng thấy. Cô Giạ Hương hoảng hốt hô hoán mất chiếc nhẫn vàng sau khi chìa tay để bọn du mục đoán tương lai vận mệnh. 

Ông bực tức dặn dò mọi người : 

- Từ nay nhất thiết cấm cửa bọn du mục. Nếu tôi về chậm, chắc chắn đồ đạc trong nhà sẽ mất sạch. 

Ngày mai, lại có tin bọn du mục đã lấy trộm hai con ngựa và chiếc xe của một nông gia ở làng kế cận. Cảnh sát lùng kiếm khắp nơi, nhưng chưa tìm ra tung tích bọn chúng. Họ chỉ tóm được ở gần khu rừng đó mụ già An Gia và thằng cháu nhỏ. Mụ già đang nằm giữa đất thở thoi thóp, còn thằng nhỏ quỳ gối một bên khóc nức nở. 

Trông thấy mụ già yếu đuối gần chết, cảnh sát kiếm một chiếc xe ở làng để chở mụ già đến bệnh viện cứu cấp. Dọc đường, họ tra hỏi thằng bé về hành tung bọn du mục, nhưng nó khóc thút thít, nhất thiết trả lời không hề hay biết. Xe chạy đến bệnh viện, nhân lúc tối trời mà không ai để ý, thằng bé nhảy xuống xe, lủi vào bụi rậm trốn thoát. 

Thường lệ trước khi đi ngủ, gã đánh xe rảo quanh lâu đài một vòng để canh phòng bọn gian tế. Bất ngờ, gã bắt gặp thằng bé du mục đang ngồi run rẩy dưới cửa sổ. Đoán chắc nó rình rập để chờ cơ hội thuận tiện len lỏi vào nhà trộm cắp, gã tóm cổ nó, đánh vài bạt tay rồi giam giữ nó vào nhà xe. Nó nhất định khăng khăng không hề có ý gian tà, nó trở lại lâu đài để tìm gặp em bé có ba ngôi sao trong bàn tay. 

Sáng mai, trong bữa ăn điểm tâm, cuộc bàn cãi sôi nổi diễn ra giữa ba má Bạch Huệ về số phận tù nhân tí hon : 

- Mình định làm gì thằng nhỏ ? 

- Tôi sẽ giao nó cho cảnh sát, chắc chắn nó biết tin tức bọn du mục trộm cắp. 

- Sao mình lại nạp nó cho cảnh sát ? Nó còn quá nhỏ tuổi. Vả lại nó tự đến đây, mình phải cho nó ăn rồi gởi nó vô nhà trừng giới hoặc một nơi nào người ta chăm nom trẻ con vô thừa nhận. 

- Mình bao giờ cũng thánh thiện ! Một thằng nhỏ lưu manh không trở nên lương thiện. Nhờ cô Giạ Hương cho nó ăn uống, rồi khoá cửa nhà xe cẩn thận kẻo nó trốn thoát. 

Ba chị em Xuân Lan sốt sắng : 

- Để các con đem đồ ăn cho nó. 

- Nhưng đừng để nó trốn thoát nghe ! 

Xuân Lan đem một ly sữa, Thu Cúc một khúc bánh mì, còn Bạch Huệ mang hai quả lê của bà nội vừa mới cho em. 

Cô Giạ Hương vừa mở cửa nhà xe, thằng bé ngồi nhổm ngay dậy. Nó đưa đôi mắt đỏ ngầu, lừ đừ, buồn bã nhìn ba chị em Xuân Lan. Đoạn nó chậm rãi đón ly sữa trên tay Xuân Lan uống luôn một hơi rồi nhai ngấu nghiến khúc bánh mì. Đến lúc Bạch Huệ trao hai quả lê, nét mặt nó bỗng trở nên tươi tỉnh, đôi mắt sáng ngời, chẳng phải vì thấy quả lê ngon lành nhưng vì nó đã nhìn ra Bạch Huệ : 

- Vì cô mà tôi đến đây ! 

- Anh đến đây tìm tôi làm gì ? 

- Nội tôi đã bảo tôi thế. Tôi là Hùng Tâm, con vua du mục. Mụ An Gia, bà nội tôi, mẹ vua du mục đã bảo tôi : “em bé đó nắm giữ vận mệnh mầy. Hãy đến với em”. Thế là tôi phải đến đây. 

Cô Giạ Hương nhún vai khôi hài : 

- Con vua ! Một thằng du mục đen đủi, chỉ còn một manh áo rách. Thế vua cha mầy đâu ? 

- Cha tôi bị lão Hung Nô hạ sát, Hung Nô, lão già trưởng đoàn du mục đã đến lâu đài hôm qua là một tên trộm cắp hung bạo tàn ác. 

Chuyện xảy ra từ lâu, cách xa nơi đây. Lúc ấy mẹ tôi đã chết, tôi đang còn nhỏ xíu. Lão Hung Nô muốn giết luôn tôi, nhưng bà nội tôi bênh vực che chở. Cả đoàn du mục đều kiêng dè bà tôi vì bà biết nhiều phù phép trù yểm, chính lão Hung Nô cũng phải khiếp sợ bà tôi. Một lần, hai bà cháu tôi đã tìm cách tách rời khỏi đoàn, dừng chân tá túc hai năm tại một trường, tập đọc tập viết. Thình lình bà tôi ngoạ bệnh rồi mất hẳn trí khôn. Vài tháng sau, đoàn du mục ngang qua làng, dùng áp lực bắt buộc hai bà cháu tôi theo chúng. 

Hôm qua, sau khi cãi lộn kịch liệt với bà tôi, lão Hung Nô định tâm sát hại bà tôi, nên lúc qua cánh rừng, xô đẩy chúng tôi ra khỏi xe. 

Bà tôi căn dặn : 

- Bà sắp chết, cháu đến ngay lâu đài họ Nguyễn. Ở đó, công chúa với ba ngôi sao trong bàn tay sẽ giúp đỡ cháu. An Gia mẹ vua du mục đã truyền lệnh, cháu phải tuân theo. 

Thế là tôi vâng lệnh bà tôi đến đây. 

- Nhưng tôi làm gì để giúp đỡ anh ? 

- Tôi cũng chẳng rõ, nhưng chắc cô hiểu vì cô cầm vận mệnh tôi trong tay. 

Ngừng giây lát, thằng nhỏ nói tiếp : 

- Nhưng trước hết, hãy tha tôi ra, tôi không trốn thoát đâu ! Giam giữ tôi trong căn phòng chật hẹp, ngột ngạt tù túng quá. Một tên du mục sống tự do giữa chốn rừng núi không thể sống quanh quẩn trong bốn bức tường tăm tối. 

Cô Giạ Hương khóa cửa nhà xe xong cùng ba chị em Xuân Lan trở vô nhà, bỏ mặc Hùng Tâm một mình căm hờn tủi phận. 

Nhớ lại lời đối thoại giữa ba má về số phận Hùng Tâm, Bạch Huệ tưởng tượng bức vách đen sì bao quanh nhà trừng giới với bọn người giám thị hung ác tàn bạo. Một bé du mục từng quen đời sống chim trời cá nước chịu sao nổi cảnh giam hãm suốt ngày trong chốn lao tù ! 

Sau bữa cơm trưa, Bạch Huệ tỉ tê năn nỉ với mẹ xin thả tên du mục, em cam đoan nó không bao giờ dám trốn thoát. Gã đánh xe ở phố về kể chuyện lại mụ An Gia vừa từ trần đêm qua tại bệnh viện, khiến bà cũng thương xót cho số phận Hùng Tâm. 

Nhưng ông chẳng mảy may động lòng : 

- Không được, trước tiên phải giao nó cho cảnh sát để lấy cung khai. Phải nghĩ đến tương lai nó, chỉ có nhà trừng giới mới giáo dục nổi tên ma cà bông trộm cắp. 

Bạch Huệ mím chặt đôi môi, thì thầm một mình : 

- Để mình giải thoát cho nó. 

Đang ngủ, mẹ Bạch Huệ tỉnh giấc vì nghe tiếng động khẽ gần bên giường ông. Bà nhìn thấy một bóng đen lướt nhanh ngang qua phòng bà, rồi nghe tiếng cánh cửa cọt kẹt ở dưới nhà. Một khắc đồng hồ trôi qua, bà lại thấy một bóng đen chạy ngang phòng bà rồi tiến dần về phòng riêng của các con. Bà lắc đầu ngủ lại. 

Sáng mai, có tin thằng bé du mục đã trốn thoát khỏi lâu đài. Chẳng ai rõ nó biến hoá thế nào để mở cửa nhà xe, vì chìa khoá cất kỹ trong hộc tủ cạnh giường ông. 

Ông giận dữ : 

- Ai giúp nó trốn thoát ? Tôi phải tìm cho ra thủ phạm. 

Thu Cúc mỉm cười nhìn ba. 

- Ba tự tay khoá cửa nhà xe, bỏ chìa khoá vào hộc tủ. Ai dám vào đó lấy chìa khoá mở cửa cho nó ! 

Xuân Lan phụ hoạ lời em : 

- Hay vì mộng du, ban đêm ba xuống mở cửa thả nó ra rồi ba quên đi. 

Bạch Huệ lặng thinh, thản nhiên như không hề hay biết. Nghe má gọi, em giựt mình lo lắng, nhưng má lại khiến em lên gác ru bé Út. Em liếc nhìn má, thấy má nở nụ cười bí mật, chẳng tỏ vẻ gì trách mắng em. 

Đến chiều, em dắt nai vàng vào rừng, lòng thảnh thơi nhẹ nhàng như làm xong một công việc từ thiện. Ngang qua một cây đại thọ, lá cây rơi xuống đầu em, em nhìn lên cây thấy Hùng Tâm ngồi vắt vẻo trên cành : 

- Hùng Tâm, sao anh còn lảng vảng nơi đây ! Nên cao chạy xa bay, nếu anh còn lẩn quất ở đây, không khỏi bị tóm lần nữa ! 

- Nội dạy tôi phải ở luôn bên mình cô. Tôi kiếm cành cây, lá cây che chòi tránh mưa nắng, ở đây thoải mái, chỉ lo kiếm cái ăn. 

- Anh phải quyết định, không thể sống trong rừng như một thú hoang. Anh không thể lười biếng lêu lổng suốt đời. Anh phải làm lụng để kiếm tiền sinh sống như mọi người. 

- Tôi chẳng muốn làm công việc gì hết, chỉ muốn đánh đàn thôi. Tôi muốn trở nên một nhạc sĩ. 

- Đánh đàn ? Anh biết chơi đàn gì ? 

- Vĩ cầm, tôi chơi đã khá. Một ông già trong đoàn du mục có chiếc vĩ cầm tập luyện tôi kéo đàn. Tôi thích kéo vĩ cầm biết bao ! Ông bạn già qua đời để lại cho tôi chiếc đàn và trong cơn giận dữ, lão Hung Nô đã đập nát chiếc vĩ cầm của tôi. Nếu tôi có một vĩ cầm, rừng rú đều hân hoan vui vẻ vì tiếng đàn của tôi. Tôi chẳng muốn làm vua du mục, chỉ muốn trở nên một nhạc sĩ trứ danh với điệu đàn muôn thuở. 

Bạch Huệ lẩm bẩm một mình : 

- Chúng ta cũng có một vĩ cầm, di vật của ông nội ta, trong gia đình không ai dám động chạm. 

- Một vĩ cầm, cô có một vĩ cầm ! Cho tôi mượn tạm chốc lát để nhìn và sờ nó, cũng đủ sướng rồi ! 

- Không thể được ! Nếu ai biết tôi đem đàn cho anh, họ theo dõi sẽ tóm cổ anh ngay. 

- Không hề chi ! Tôi sẽ đàn ít bản tặng cô, cô sẽ mang đàn trả lại gia đình, mất mát gì đâu ! Tôi sẽ đi xa nơi đây, không còn ai nhắc nhở đến tôi nữa ! 

Hùng Tâm rưng rưng rớm lệ, van lơn cầu khẩn. Bạch Huệ động mối từ tâm, không nỡ chối từ, hứa ngày mai sẽ đem vĩ cầm cho mượn. 

Tối lại, bà nội ngủ say, em rón rén vào phòng, mở tủ đỡ nhẹ chiếc vĩ cầm, nín thở mang về phòng em giấu kỹ. Em nghĩ hành động như thế không tốt, nhưng em lại tự bào chữa : 

- Chẳng qua một tiếng đồng hồ là cùng ! Nó đàn xong, mình đem vĩ cầm trả lại chỗ cũ. Mình sẽ thưa lại với má, chắc má cũng tha thứ, biết đâu má lại chẳng đem Hùng Tâm cho vào học một trường âm nhạc để sau này trở nên một nhạc sĩ tài ba. 

Bạch Huệ thu giấu vĩ cầm trong chiếc khăn cùng nai vàng lẻn vào rừng, chẳng ai trông thấy. Em còn đem theo một ít thực phẩm cho Hùng Tâm. 

Nhìn thấy Bạch Huệ, Hùng Tâm lộ vẻ vui sướng : 

- Chờ cô sốt cả ruột, cứ ngỡ cô không giữ lời hứa. Mau đưa vĩ cầm đây ! 

- Có bánh đây hãy ăn đã ! 

- Có vĩ cầm đủ no, cần gì ăn ! 

Hùng Tâm giựt mạnh chiếc đàn trên tay Bạch Huệ, ôm chặt vĩ cầm vào lòng, tay sờ mó đàn. Một niềm sung sướng hả hê làm rạng rỡ vẻ mặt u tối của nó. 

Chiếc áo sờn vai, kẹp chiếc vĩ cầm dưới cổ, hai tay nổi hằn gân xanh, Hùng Tâm lên dây đàn thử vài tiếng, đoạn kéo chiếc vĩ cầm vang lên âm điệu réo rắt thánh thót, dáng điệu hiên ngang hùng dũng như hiệp sĩ múa kiếm ở chốn rừng xanh. 

Mặt bừng đỏ, đôi môi hé mở, hàng mi chớp chớp, nó say sưa kéo vĩ cầm, chú hết tâm lực vào âm điệu tiết tấu, không thèm để ý đến Bạch Huệ đang sửng sốt nhìn mình. 

Bạch Huệ yên lặng lắng tai nghe điệu đàn réo rắt mê ly, chưa bao giờ em nghe điệu nhạc êm dịu dường ấy : âm thanh lúc nhẹ nhàng siêu thoát như gió thoảng hương bay, lúc rộn ràng hùng dũng như tiếng thác trút đầu ghềnh. 

Thật là : 

Trong như tiếng hạc bay qua, 
Đục như nước suối mới sa nửa vời. 
Tiếng khoan như gió thoảng ngoài, 
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa. 

Âm điệu tiếng đàn càng lúc càng lan rộng khắp rừng núi, âm thanh rền rĩ rồi nín bặt như tiếng nấc nghẹn ngào đứt quãng. 

Gió ngừng thổi… Chim muông cầm thú đều bất động, lắng nghe tiếng đàn tuyệt diệu của Hùng Tâm, con vua du mục. 

- Bà tôi nói chẳng sai ! Vận mệnh tôi ở trong đôi bàn tay cô. Cảm tạ cô nương. Tôi sẽ kéo đàn mãi mãi. 

- Tôi phải trở về, anh đưa tôi chiếc vĩ cầm. 

- Trả lại cho cô ! Đời thuở nào ! Tôi rất cần dùng nó. Thôi vĩnh biệt. 

Bất ngờ, hoảng hốt, Bạch Huệ vội vàng giành lấy vĩ cầm trên tay Hùng Tâm, nhưng đôi mắt nẩy lửa, không suy nghĩ nó đưa tay thoi mạnh vào mặt Bạch Huệ té nhào xuống đất. Hùng Tâm xách chiếc đàn, lẩn vào rừng mất hút. 

Bạch Huệ lồm cồm ngồi dậy, sửng sốt, ngơ ngác. Tiếng âm u trong rừng rú, giọng hót véo von của chim chóc như còn muốn hoạ theo âm hưởng điệu đàn vĩ cầm của Hùng Tâm. Em tấm tức khóc, vừa chạy vừa kêu : 

- Hùng Tâm, Hùng Tâm, trả đàn cho ta, trả đàn cho ta. 

Đau đớn bực tức, em lủi thủi dắt nai vàng trở lại lâu đài lúc trời đã nhá nhem tối. Em định thú thật với má, nhưng em nghĩ trước sau rồi người ta cũng bắt được Hùng Tâm, nên em lại lặng thinh. Nó sẽ bị trừng trị đích đáng về tội trộm đàn, nhưng thực ra nó đâu có trộm cắp vì chính ta mang vĩ cầm đến cho nó. 

- Ờ ! Nếu việc tiết lộ, ta đành chịu trách nhiệm, lãnh chịu mọi hình phạt, vì chính ta mới là thủ phạm ! 

Mặc dầu tâm hồn nặng chĩu hối hận vì đã làm mất chiếc đàn, nhưng em nghĩ bây giờ Hùng Tâm đã trốn xa nơi đây, tự do với chiếc vĩ cầm em cũng thấy nhẹ nhõm đôi phần vì đã giúp đỡ người khác được hạnh phúc sung sướng. 

Nhưng rồi lương tâm em vẫn bị ám ảnh vì chiếc vĩ cầm, di vật quí hoá của gia đình không còn nữa. Em ăn không ngon, ngủ không yên giấc, đôi lúc tự nhiên giọt lệ lưng tròng, không ai rõ duyên cớ vì đâu. 

Một bác sĩ bạn thân của gia đình đến thăm, cố nhiên ba má em nhờ bác sĩ khám xét. 

Thu Cúc thì thầm với Xuân Lan : 

- Bác sĩ nói chị Bạch Huệ đau tim nặng. Phải săn sóc cẩn thận, nếu gặp việc buồn phiền khiếp sợ, sẽ nguy hiểm đến tánh mạng. 

Nằm trên giường, tay gác lên trán, Bạch Huệ nghĩ ngợi lan man : 

- Hay ta sẽ chết. Linh hồn ta sẽ bay lên thiên đàng như linh hồn các trẻ con khác. Không, linh hồn ta không bay lên trời, linh hồn ta sẽ ở lại nơi rừng núi. Thật tuyệt diệu ! Không còn ai la mắng ta, không còn ai gọi ta “em bé ngơ ngác”. Đêm đêm hồn ta rong chơi trong rừng rú, hồn ta bay bổng lên các ngọn cây, hồn ta săn sóc vỗ về chim con bé bỏng, hồn ta bảo vệ thỏ con chống lại diều hâu, cú vọ. Hồn ta nương theo ánh trăng bay vào phòng bé Út, hát những điệu hát ru em dịu dàng êm ái. Trong giấc ngủ hồn nhiên, bé Út mỉm cười không ai hiểu vì sao em cười, vì ai ngờ đâu linh hồn ta đứng cạnh bên em. Một ngày kia, hồn ta cũng bay lên thiên đàng, chắp tay cầu khẩn Chúa: 

- Chúa hãy ban phép lạ, truyền thiên thần đem vĩ cầm bỏ vào tủ gia đình họ Nguyễn, chiếc vĩ cầm giống như đúc vĩ cầm của ông nội ta. 

Lời thỉnh nguyện của linh hồn ta được Chúa chấp nhận. Người sai thiên thần đem vĩ cầm bỏ vào tủ. Đến lễ Giáng sinh bà nội truyền người trong nhà đem đàn ra lau chùi sạch sẽ rồi trân trọng cất vào tủ, như tuồng không có chuyện gì xảy đến. 

Đôi mắt mơ màng, trên môi nở nụ cười cởi mở, Bạch Huệ nhìn vào cõi xa xăm, say sưa nghĩ đến chuyện cổ tích kỳ diệu “Hồn Bạch Huệ”, chuyện cổ tích chưa bao giờ em kể cho ai nghe.
________________________________________________________________________________ 
Xem tiếp CHƯƠNG IV