Thứ Năm, 28 tháng 7, 2016

Thúc Quân (Hồn Quân Reo) - VĂN GIẢNG

12- Nhạc phẩm: ♪♬ ❋⊱ THÚC QUÂN (HỒN QUÂN REO) ⊰❋ ♪♬

Bài hát THÚC QUÂN do nhạc sĩ Văn Giảng sáng tác năm 1949. Thời điểm ra đời, bài hát còn có tên là HỒN QUÂN REO. Đây là 1 bản hùng sử ca rất hay và nổi tiếng thường được phát trên Đài phát thanh khi xưa.

Ngoài Thúc quân, nhạc sĩ còn là tác giả nhiều bản hùng ca và sử ca khác như: Lục quân Việt Nam (1950), Đêm Mê Linh (1951), Quân hành ca (1951), Qua đèo (1952), Nhảy lửa (1953)... Và ít ai biết ông còn viết tình ca với bút danh Thông Đạt với bài Hoa cài mái tóc nhưng nổi tiếng nhất là nhạc phẩm Ai về sông Tương.

Mời quí độc giả cùng nghe bản hùng ca THÚC QUÂN.

@ Link nghe nhạc:

Bức Tranh Dòng Họ Nguyễn - CHƯƠNG VIII

CHƯƠNG VIII

TỈNH NGỘ

Cơm nước xong, về đến Saigon vừa tối mịt. Ghé sạp báo đầu đường mua mấy tờ coi những tin tức thời sự đang đến hồi gay cấn.

Bỗng Cơ nhẩy nhổm lên, la:

- Trời ơi! Sao lại có chuyện thế này?

Tất cả xúm vào coi thì ra đó là một tin gay cấn trong mục “Xẩy ra trong nước 24 giờ qua”.

CON CÁI ĐỜI NAY

“Đêm 28 rạng ngày 29-12, tại hẻm số 789, 123 đường Lê văn Duyệt đã xẩy ra một vụ cướp rất táo bạo.

Khổ chủ là ông T.V.K, 53 tuổi và bà C.T.T, 49 tuổi.

Bức Tranh Dòng Họ Nguyễn - CHƯƠNG VII

CHƯƠNG VII

SẤM TRẠNG TRONG TRANH

Khi thấy thằng Có trở về sau một đêm mất tích và rồi lấy lại được bức tranh, Mười Khoái tự thấy sáng mắt ra. Một đàng, thằng Tỷ, con ruột của y, vì không chịu học hành tử tế lại ham chơi lêu lổng, đánh bạn với những đứa chẳng ra gì nên chỉ rình cơ hội nã tiền để tiêu pha bậy bạ. Đàng khác, cậu Cường còn nhỏ tuổi hơn thằng Tỷ mà xử sự đứng đắn như người lớn, không nỡ phá món hoạnh tài của lão mặc dầu cậu ta dư sức dẫn thằng Có về trả gia đình nó mà không tốn một đồng bạc.

Càng ngẫm nghĩ càng cảm phục cậu thiếu sinh Hướng Đạo có độ lượng và biết thương người. Vì thế, chuyến đi Đà Lạt này nhằm ngày lễ Giáng Sinh, lão năn nỉ Cường cùng đi với lão cho vui và nhất là, lão nói, cho thằng Có đi đường có bạn.

Bức Tranh Dòng Họ Nguyễn - CHƯƠNG VI

CHƯƠNG VI

CẢ NGƯỜI LẪN TRANH MẤT TÍCH

Đi Đà Lạt vội vàng. Về Saigon cũng vội vàng. Vừa về tới nhà, việc đầu tiên của lão Mười là kiểm soát xem Thiện Cơ có còn đó hay không, hay là đã rông đi đâu mất tích rồi.

- Có đâu? – Y đập tay vào cửa sắt gọi – Có đâu, mở cửa cái coi.

Có lên tiếng thưa:

- Dạ, để con kiếm xâu chìa khóa.

- Ở nhà hổm rầy có chi lạ không? – Y vừa bước vào nhà vừa hỏi.

Bức Tranh Dòng Họ Nguyễn - CHƯƠNG V

CHƯƠNG V

BỨC TRANH

Hơn bẩy giờ sáng, ông Năm Cầm đi đâu về, cười hề hề bảo vợ đang đứng chờ ở cửa:

- Anh chị Mười lóng rày sang dữ. Bây giờ còn bầy đặt đi Đà Lạt nghỉ mát nữa cơ đấy. Tôi vừa gặp hai vợ chồng với thằng con diện quần áo lạnh mới toanh bước lên xe đò đi Đà Lạt…

- Vậy hả? – Người vợ nói rồi quay sang nhà bên cạnh, hỏi chõ vào trong – Thằng Có có ở trong nhà không đó? Ba má và anh hai mày đi Đà Lạt rồi hả?

Có mở cửa ra thưa:

Bức Tranh Dòng Họ Nguyễn - CHƯƠNG IV

CHƯƠNG IV

NGUYỄN THIỆN CƠ

Trời Đà Lạt về chiều lành lạnh.

Bước xuống bến xe, thả bộ trên những con đường tươi mát, du khách khoan khoái cảm thấy chỉ trong khoảng khắc bỗng rũ sạch hết cát bụi của Saigon oi bức, luôn cả nỗi mệt nhọc của một chuyến di chuyển dài trên chiếc xe đò chật chội.

Trong đám du khách buổi chiều đẹp trời hôm ấy, có ba người vui tươi nhất. Đó là một cặp vợ chồng đứng tuổi cùng một thiếu niên 16, 17 tuổi, con trai họ. Tất cả súng sính trong những bộ đồ lạnh mới sắm.

Thứ Ba, 26 tháng 7, 2016

Bức Tranh Dòng Họ Nguyễn - CHƯƠNG III

CHƯƠNG III

LIỆU BÀI MỞ CỬA

Trưa Saigon nắng như đổ lửa. Mỗi lều sửa xe là một ốc đảo mát rượi rải rác bên hông Trường Đua nóng bỏng. Vắng khách, thợ nằm dài trong lều nghỉ mệt. Riêng chú Có Honda đang lúi húi giải bài toán trên một chiếc thùng ván cũ. Rõ ra phong thái của một cậu học trò nghèo ham học hơn là một chú thợ cam phận suốt đời xa lạ với sách vở. Bao nhiêu tâm trí để cả vào mấy cái hình vẽ và mấy con số đến nỗi một chiếc xe từ đâu tới đậu sát chiếc lều mà không hay.

- Chà! Chú bé học chi mà chăm chỉ thế?

Giật mình, Có quay đầu lại, đứng phắt dậy, chạy a tới, reo vui:

Bức Tranh Dòng Họ Nguyễn - CHƯƠNG II

CHƯƠNG II

CHUYỆN NHÀ HỌ NGUYỄN THIỆN

Sắp đến giờ đóng cửa văn phòng, ông chủ hãng Kiến Bình mời Cường ngồi chơi ở chiếc ghế bành nơi phòng khách, đối diện với ông, tất cả con cháu cũng được ngồi vây quanh để nghe ông nói chuyện gia đình.

Ông nâng tách trà đượm hương thơm ngát, mời:

- Cậu Cường dùng trà đi, thử xem trà Việt Nam trồng, Việt Nam sấy, Việt Nam ướp có thua gì trà Tầu không nào.

Cường nhấp vài hớp nhỏ, đặt tách xuống thưa:

Bức Tranh Dòng Họ Nguyễn - CHƯƠNG I

CHƯƠNG I

NGƯỜI BẠN NHỎ

Cuối tháng chạp dương lịch, trời hết mưa, phố xá Đà Lạt đẹp như những bức tranh mầu in trên các tấm bưu thiếp.

Không khí trong như lọc. Hai hàng cây cao ngất bên vệ đường vươn những cành lá xanh tươi thâu góp tất cả cái nóng của mặt trời chiều đổ xuống. Một hơi gió thoảng qua, vòm cây xào xạc, reo vui, buông vội xuống năm ba vạt nắng vàng tươi, hòa hơi ấm mặt trời vào trong cái mát lạnh của không gian.

Vẻ đẹp thanh tao ấy đã quá quen thuộc với dân địa phương nên dường như chỉ có khách du mới tế nhận được mà thưởng thức.

Bức Tranh Dòng Họ Nguyễn - CHÂN PHƯƠNG


Truyện : CHÂN PHƯƠNG
Loại Hoa Đỏ
Tủ sách Tuổi Hoa - 1973 

Thứ Hai, 20 tháng 6, 2016

LỮ QUÁN GIẾT NGƯỜI - CHƯƠNG XIV

CHƯƠNG CUỐI

Mary vẫn vừa đi vừa miên man suy nghĩ. Nàng nhớ lúc trước mẹ nàng vẫn bảo: "Lòng mình khó mà thỏa mãn" và nhất là cái câu: "Khi người đàn bà làm việc cho người khác, vì người khác thì họ dễ vui, dễ yên ổn trong lòng, nhưng khi họ làm cho chính họ thì..." Mary không phải hạng người ích kỷ, nhưng bây giò thử hỏi nàng có ai đâu để mà làm vui, mà sống vì người ấy, cho người ấy? Nàng chỉ còn có ĐẤT ĐAI, làng mạc để bám víu, biết làm sao? Chả nhẽ nàng đi tu? Không, Mary biết rõ nàng: nàng không phải là thứ người có thể quên mình tới mức ấy. Các vị nữ tu khả kính nhưng không thể có nàng trong số ấy. Nàng ham hoạt động, thích vươn vai thở mạnh và khi vui nàng muốn cười to. Nàng muốn có bạn xung quanh, gà, vịt, ngựa, bò, cỏ cây, sông suối, nếu không có ai gần gũi thì các sinh vật ấy cũng đủ vui rồi, và khung cảnh quen thuộc của Helford cũng là quá đủ cho một cô gái đã nếm nhiều gian khổ trong những ngày qua! 

LỮ QUÁN GIẾT NGƯỜI - CHƯƠNG XIII

CHƯƠNG XIII

Trời tháng Giêng thật đẹp. Một lớp tuyết mỏng phủ lên mặt đường, mặt nước và trên bùn nom loang loáng như một tấm gương vĩ đại lấp lánh phản chiếu ánh mặt trời. Trời xanh mầu ngọc bích, không một gợn mây vương, trong vắt. 

Mặt đất khô cứng, những cọng cỏ ngắn, dòn, rào rạo dưới mỗi bước chân như khi người ta dẫm trên lối đi trải sỏi vụn. 

Quanh vùng, trên những lối đi nhỏ hẹp cạnh hàng giậu thưa, vầng dương chiếu sáng và sưởi ấm bầu không khí trong lành, tinh khiết. Hương vị đầu xuân thoang thoảng, e ấp và đầy quyến rũ. 

Chủ Nhật, 19 tháng 6, 2016

LỮ QUÁN GIẾT NGƯỜI - CHƯƠNG XII

CHƯƠNG XII

Đêm đen, gió rét, không khí ẩm. Trăng bị mây đen che khuất, như đồng lõa với kẻ ác trong cuộc đi trốn. Mary tự hỏi có thể kêu cứu bằng cách đánh thức dân làng? Cùng lúc ấy, nàng thấy bàn tay người đàn ông trước mặt: 

- Đừng nghĩ bậy, Mary! Ở Altarnun này dân chúng vào giường sớm. Cô mà mở miệng, thì chỉ trong nháy mắt cô đã nằm dài bất động dưới cỏ ướt, tuổi trẻ và sắc đẹp tiêu tan... Và khi dân chúng mở mắt ra, họ chỉ còn biết thương tiếc cô, còn tôi, tôi biến mất vào bóng tối. Đừng sợ lạnh, ngựa chạy một lúc sẽ ấm. Vả lại, cô đã quen với những cuộc hành trình khó nhọc rồi mà! 

LỮ QUÁN GIẾT NGƯỜI - CHƯƠNG XI

CHƯƠNG XI

Một tiếng động khẽ sau lưng làm Mary giật mình. Cha Davey bước vào: 

- Cô đã khỏe chưa? Tôi có làm rộn cô không? 

- Thưa cha không, con đang mong cha về. 

- Thật ư? Thế thì tốt quá! Mary! Cô đã dùng bữa với tôi một lần, bây giờ lại ăn với tôi lần nữa, nhé? 

Ông nói và tháo đồng hồ tay ra sửa lại theo đúng đồng hồ treo tường. Giọng ông đều đặn: 

LỮ QUÁN GIẾT NGƯỜI - CHƯƠNG X

CHƯƠNG X

Mary rụt rè bấm chuông. Chó sủa dữ dội, rồi tiếng chân lạo xạo trên sỏi và cổng hé mở; một gã đàn ông lực lưỡng quát chó im đoạn nhìn sững Mary. Nàng nói mau: 

- Tôi cần gặp ông Bassat có việc gấp. Việc quan trọng nên tôi mới làm phiền vào giờ này.

- Chủ tôi đi Launceston sáng nay có chuyện gấp, chưa về. 

- Trời ơi! Nếu tôi không gặp ông ấy thì tên sát nhân sẽ trốn mất. Tôi cầu cứu ai bây giờ? Bác có thể giúp tôi chăng? Van bác... 

LỮ QUÁN GIẾT NGƯỜI - CHƯƠNG IX

CHƯƠNG IX

Mary cố nhớ lại xem mình đang ở đâu. Xe ngừng chạy, mưa thôi bay vào mặt nàng từ bao giờ? Nàng rên rỉ, quay nhìn hai bên: ra nàng đang nằm trong phòng, ở lữ quán. Nàng chán nản, không còn thiết sống. Nàng qua nhiều thử thách, nhưng chưa bao giờ xúc động đến mức này. Sức mạnh tinh thần và thể xác nàng như bị đập tan nát. Cô khóc rưng rức... 

Bỗng dì cô hiện ra, đôi mắt buồn lo khổ sở. Hai người ôm nhau khóc lặng. Mary hỏi dì: 

- Dì biết chuyện gì không? 

Mắt dì nàng như van xin khẩn thiết nàng đừng hỏi. 

LỮ QUÁN GIẾT NGƯỜI - CHƯƠNG VIII

CHƯƠNG VIII

Còn ba dặm nữa mới về đến lữ quán. Nếu linh mục nói đúng thì còn gì vui hơn! Kỷ nguyên của bọn đánh đắm tàu chấm dứt. Họ sẽ biến mất theo bóng đêm. Tàu bè đến Anh quốc sẽ không sợ hãi gì nữa. Người ta yên lòng mà du lịch. Mọi người sẽ quên những chuyện kinh hoàng. Trên đồng hoang nông dân sẽ đến trồng trọt, khai khẩn, chả ai sợ lữ quán Giao Mai... Nàng và Jean sẽ... 

Bỗng Mary giật mình: qua cửa sổ xe nàng thấy có tia lửa xẹt và hình như cả tiếng súng, tiếng hú vang xa. Rồi tiếng chân và tiếng người quát tháo. Nàng nghiêng người, chồm ra nhìn, mưa tạt vào mặt nàng, bác phu xe rú lên một tiếng, toan quay xe lại nhưng không kịp nữa. Đoàn người tiến đến sát xe, tên đi đầu có cầm đèn lồng, chúng nhảy tới chứ không phải đi. Đoàng một tiếng, bác phu xe gục tức thời; tiếng kêu cứu tắt nghẽn trong cổ họng. Xe chao qua, đảo lại dễ sợ. 

LỮ QUÁN GIẾT NGƯỜI - CHƯƠNG VII

CHƯƠNG VII

Hôm áp lễ Giáng Sinh trời báo hiệu một cơn mưa sắp đến, phòng Mary ẩm ướt, nàng nghiêng mình ra cửa sổ, gió tạt vào mặt. Một giờ nữa, Jean chờ nàng ở đồng hoang, cùng đi Launceston. Nên đi không? Bốn ngày nay, Mary già đi: mắt thâm quầng, má hóp, bơ phờ; nàng ăn không được, ngủ không được. Có lúc nàng thấy mình cũng có vết nhăn ở trán, tóm lại nàng gần giống như dì! Nàng ở lỳ trong phòng, viện cớ bị cảm. Nàng xót thương dì quá: bà đã bị bí mật kinh hoàng này đè nặng bao lâu? Sau này, dù nàng có đưa dì đi đến đâu, bí mật này vẫn đeo đẳng bên dì. Trời ơi! Nàng đã biết rồi, cái duyên cớ khiến dì gần như mất trí. Dì nàng cũng mang tội ác, dì đồng lõa với chồng bằng sự im lặng của dì. Dì đã dung túng, mặc cho con quỉ dữ lộng hành. 

Thứ Bảy, 18 tháng 6, 2016

LỮ QUÁN GIẾT NGƯỜI - CHƯƠNG VI

CHƯƠNG VI

Khung cảnh trong nhà êm ả, đặc biệt làm Mary tưởng đây là một căn nhà trong truyện cổ: có hàng rào gai mà anh hùng trong truyện sẽ chặt để lấy lối đi, bên trong là vườn hoa đủ loại. Dưới khung cửa sổ, hoa mọc từng khóm và huệ trắng vươn cao, dây leo mọc phủ vách, che khuất luôn cổng ra vào và ngôi nhà như... yên ngủ từ lâu lắm. 

Mary chợt mỉm cười vì tưởng tượng của mình. Nàng lại đưa tay hơ trên lò sưởi. Sự im lặng làm nàng thích thú, thấy khỏe và hết sợ. Khác xa lữ quán Giao Mai: không nặng nề, bừa bãi, đầy đe dọa. Tủ, ghế, bàn, cả những tranh treo trên vách đều tỏa ra sự ấm cúng tuy không thân mật. 

LỮ QUÁN GIẾT NGƯỜI - CHƯƠNG V

CHƯƠNG V

Đêm ấy xe ngựa trở lại. Nàng thức giấc lúc hai giờ sáng. Nhìn ra cửa sổ, cô gái thấy chỉ có hai xe thôi. Cỡ sáu người tất cả. Những xe ngựa có vẻ kỳ bí và giống như xe tang. Bóng người di động trên sân lặng lẽ. Mary tưởng như đó là hình ảnh của một ảo mộng. 

Nhưng đó là sự thật, các xe đều trống rỗng, hàng hóa từ trong phòng được khuân ra, chất ngập xe. 

Tại Helford, ít ai nói tới chuyện buôn lậu, mà có nói đến thì bằng cái nháy mắt và nụ cười khoan thứ, y như những chai rượu lậu chỉ là một xa xí phẩm vô hại chứ không phải là một tội ác đè nặng lương tâm. Đây khác hẳn: bọn bất lương đã nhúng tay vào máu người. Kẻ nào thấy lương tâm cắn rứt, thì sẽ lãnh một sợi dây tròng vào cổ như nàng đã thấy. 

Tổ chức của Joss như một vòng xích sắt: không có khoen nào được yếu. Bỗng Mary có cảm tưởng Jean đến với mục đích rõ ràng: Hắn báo trước cho anh biết xe đến đêm nay. Mary chợt giận mình quá đỗi, vậy mà nàng tưởng sẽ là bạn với Jean. Anh em họ cộng tác với nhau, rõ ràng quá. Chắc một điểm lương tâm vùng dậy, ngo ngoe trong chốc lát, xui anh ta quan tâm đến số phận Mary, khuyên nàng rời lữ quán, vì anh ta biết rõ cái gì đợi Mary. 

Vậy mà cô lại vướng víu bà dì như vướng bận đứa nhỏ còn ẵm ngửa, có bực không? 

Các xe đã đầy nhóc hàng hóa, chúng lặng lẽ lần lượt rời lữ quán. 

Công việc đêm nay nhanh chóng hơn lần trước. Cũng không có ai đột nhập bí mật vào như lần trước, trò chuyện cùng chủ quán... 

Nhiều ngày tiếp theo, không có gì xảy ra. Những chuyến xe chạy ngang, lủi nhanh như một con bọ hung bị đuổi. 

Một sáng kia trời lạnh, đá phủ ngập sân, mặt trời le lói giữa bầu trời trong sáng. Núi đá sừng sững mầu xanh thẫm, các vũng lầy thường ẩm và nâu hôm nay cũng hóa trắng, lấp lánh ánh nắng chan hòa. 

Gió thổi nhẹ. Mary bớt nản khi thấy mặt trời. Nàng mang áo quần đi giặt. Nước ấm và bọt xà phòng làm nàng thích thú, vừa hát vừa làm việc. Sáng nay, Joss lên ngựa ra đi. 

Mỗi lần lão đi, Mary thấy nhẹ nhõm lạ. Bỗng có tiếng gõ vội vàng nơi cửa kính. Mary quay lại nhìn, dì nàng tái xanh ra hiệu cho nàng vào nhà. Mary vội chùi tay vào tạp dề, chạy vào cửa sau, dì ôm lấy Mary run rẩy, lắp bắp không ra tiếng. Mary trấn an dì: 

- Có gì vậy, thưa dì? Đừng sợ, dì cứ thong thả nói... Dì ngồi xuống đi! 

Nàng nói và dìu dì lại ghế. Dì Patience cắn môi, hất hàm chỉ ra cửa, thì thào: 

- Ông Bassat! Ông đến với một người nữa! Chúa ơi! Ta làm sao đây, hở Mary? 

Tiếng dì nghẹn trong cổ họng trong lúc tiếng gõ cửa cấp bách hơn. Dì nói như rên: 

- Ông tới làm chi hở trời? Ông ấy có tới đây bao giờ đâu? Chắc ông ấy nghe chuyện gi rồi. Mary! Làm sao? 

Mary suy nghĩ thật nhanh: nếu đại diện pháp luật đến thì còn đợi gì nữa? Nàng sẽ kể hết, sẽ tố cáo không sót một chi tiết nhỏ. Nhưng dì nàng run rẩy nắm chặt tay nàng, van vỉ: 

- Mary! Cháu hãy cứu dì! Cháu hãy thương dì... Nếu có chuyện gì xảy ra cho anh ấy, dì chết mất! Cháu ơi! Mary... 

Tiếng gõ cửa càng gấp. Mary nói: 

- Dì cứ yên tâm. Ta phải mở cửa cho họ vô nhưng dì đừng kể lôi thôi chi cả. Cứ nói chú đi vắng và dì không biết gì là yên. Có cháu đứng bên dì, đừng sợ. 

Mary lại mở cửa. Hai người lạ đứng ở cổng. Một người to lớn cưỡi con ngựa ô tuyệt đẹp, mặc áo choàng, mũ gần kín mắt, khoảng 50. Ông quát: 

- Làm gì lâu lắc vậy? Coi bộ lữ quán này không muốn tiếp khách hàng phải không? Chủ nhân đâu? 

Dì Patience đẩy cháu tới trước. Mary điềm tĩnh: 

- Ông Merlyn đi vắng. Nếu ông muốn giải khát, xin mời hai ông vào, chúng tôi xin hầu... 

- Hừ! Hết chỗ rồi sao đến đây giải khát? Ta muốn gặp chủ nhân. Bà này là vợ Merlyn, bao giờ chồng bà về? 

- Dạ thưa ngài, nhà tôi đi từ sáng sớm và không biết có về kịp tối nay không? 

- Phiền chưa! Tôi muốn nói chuyện với ông ta. Này, bà Joss! Dù chồng bà đã lừa tôi mua được lữ quán này, nhưng tôi cũng không đến đây vì chuyện đó nữa. Điều tôi không dung được là đất đai quanh đây của tôi bị mang tiếng vì chuyện bất lương xảy ra khắp vùng... 

- Thưa, tôi không hiểu ngài muốn nói chi? Chúng tôi sống thật yên tĩnh. Có cháu tôi đây, biết rõ... 

Hai tay đan vào nhau, dì Patience nói. 

- Thôi! Tôi không ngu đâu. Tôi để ý lữ quán này lâu rồi. Lữ quán này làm cho dân quanh đây đến tận bờ bể đều khiếp đảm. Chớ giở trò đóng kịch với tôi. 

Tên giúp việc nắm cương ngựa cho chủ nhân bước xuống. Ông Bassat nói: 

- Nhân dịp này, ta cần xem xét khắp nhà. Bà đừng phản đối vô ích. Ta là quan tòa, có giấy khám nhà đây. 

Ông vượt qua hai người, bước vào trong. Bà dì giơ tay ngăn, nhưng cháu bà khuyên: 

- Dì nên để ông ấy khám. Ngăn lại chỉ tổ ông nổi giận lên. 

- Chúa ơi! – Ông Bassat kêu to – Sao mà giống nhà mồ quá! Các người làm sao nên nỗi này? Xưa kia lữ quán xinh xắn bao nhiêu! Bàn ghế đâu? 

Ông xông vào phòng khách và trỏ những vách ẩm ướt: 

- Không bao lâu nữa mái nhà sẽ đổ ập xuống cho xem! Đời tôi, tôi chưa từng thấy sự bê bối đến mức này. Nào! bà đưa tôi lên lầu coi. 

Mặt tái xanh, dì Patience quay về phía cầu thang mắt tìm mắt Mary để trấn tĩnh. Mỗi góc nhà đều được ông Bassast ghé mắt nhìn, ông giở từng cái bao cũ, quan sát đống khoai tây. Miệng ông không ngớt quát tháo vì kinh tởm và giận dữ: 

- Đây là lữ quán ư? Không có lấy một cái giường? Mọt ăn từ trên xuống dưới, bẩn thỉu hôi hám... Bà hóa câm rồi sao, bà Merlyn? 

Dì Patience chỉ lắc đầu, ông Bassat quay sang cô gái: 

- Vậy còn cô? Cô có gì nói không? 

- Thưa, tôi mới đến đây, mẹ tôi mất nên tôi đến ở với dì tôi. Dì tôi không được mạnh trong mình, thần kinh yếu... 

- Sống ở đây thì thần kinh yếu là phải. Nào, cô dẫn tôi đến căn phòng kín mít dưới kia xem! 

Dì Patience nhìn Mary trân trối. Mary gượng làm gan: 

- Thưa, ông muốn nói căn phòng làm kho phải không ạ? Chú tôi đã khóa lại trước khi đi, và tôi không biết chìa khóa ông ấy để đâu hay mang theo. 

- Vậy thì hỏi coi bà ấy có cất hay không? 

Dì Patience lắc đầu lặng lẽ. 

- Được! Không sao! Ta đập gãy cửa mà vào! 

Nói xong, ông ra sân gọi người giúp việc. Mary nắm tay dì thật chặt: 

- Dì đừng run, người ta biết. Cứ phớt tỉnh, may ra... 

Gã người làm cầm thanh sắt lăm lăm trong tay. Gã có vẻ hài lòng vì công tác chủ giao phó. Mary hẳn sung sướng nếu không có dì bên cạnh. Lần đầu, nàng được ghé mắt vào căn phòng bí mật. Nhưng nếu họ khám phá ra cái gì thì hai dì cháu sẽ liên lụy, làm sao chứng minh là mình vô tội? Ai tin được nàng, khi dì nàng mù quáng bênh vực kẻ bất lương? Nàng bối rối đứng nhìn thanh sắt đập đùng đùng vào then cửa, tiếng động vang lên chát chúa. Khá lâu cửa mới gãy nghe răng rắc và bật ra. Dì nàng kêu lên trong lúc ông Bassat đẩy bà qua một bên, lấy lối đi vào. Richards vuốt mồ hôi bò dài xuống mặt. 

Căn phòng tràn bóng tối, mấy chồng bao sắp dọc theo cửa sổ đóng kín. Ông tòa hét: 

- Đem cho ta mẩu nến coi! Y như đáy giếng... 

Richards rút trong túi mẩu nến bật diêm đốt lên trao cho chủ, ông cầm giơ cao lên bước tới. 

Ông soi vào từng góc, trong lúc tất cả lặng im. Ông tỏ vẻ tức tối vì thất vọng: 

- Lạ thật! Không có gì cả! 

Trừ chồng bao trong gốc, phòng trống trơn. Bụi và mạng nhện chen nhau trải khắp phòng. Không bàn, không ghế, không tủ giường chi hết. Ống khói cũng bịt kín mít. Trên chồng bao, có sợi dây thừng. 

- Được! Lần này tôi thua lão Merlyn! Nhưng có một ngày, hắn sẽ đền tội xứng đáng! 

Ông quay ra. Gã Richards dắt ngựa lại cho chủ. Ông lại hỏi cô gái: 

- Này, cô nên nghe tôi, dì cô chắc câm và không còn trí nhớ. Cô hiểu tiếng Anh chứ? Đừng giả vờ không biết gì cả về hành động cũng Merlyn. Hãy cho tôi biết có ai đến đây, ngày hoặc đêm? 

Mary nhìn thẳng vào mắt người hỏi (lần thứ nhất vì dì nàng, nàng nói dối trơn tru): 

- Quả thật chưa bao giờ tôi thấy ai đến, ngày cũng như đêm. Vả lại tôi ngủ say quá, vì vất vả cả ngày. 

- Cô biết vì sao phòng kia kín mít? Cô đã vào lần nào chưa? 

- Dạ chưa và tôi không hiểu ý chủ nhân nổi, ông là một người kỳ lạ. 

- Đúng, kỳ lạ lắm: lữ quán mà không tiếp khách... Kỳ lạ đến nỗi dân quanh đây chỉ có thể yên giấc khi Merlyn bị treo cổ như cha hắn trước kia. Cô nói lại với hắn khi hắn trở về, nói y như tôi nói, nghe? 

- Thưa ông, tôi sẽ nói đúng như ông dặn. 

- Này, cô không ngán phải sống với một người khùng như bà Merlyn ư? 

- Thưa ông, đó là em ruột mẹ tôi... 

- Cô thông minh, nhanh trí lắm. Nhưng tôi không ao ước làm cha mẹ cô. Thà tôi thấy con tôi nằm dưới đất còn hơn để sống trong lữ quán Giao Mai với kẻ bất lương. À, quên, (ông đã bước ra rồi lại quay vào) cô có thấy Jean Merlyn, em ruột chủ quán không? 

- Thưa ông, chưa. Tôi chưa hề nghe đến tên này. 

- Thật ư? Tốt lắm. Thôi, chào cô! 

Đợi cho người ngựa khuất sau đồi, Mary mới nói với dì, giọng hằn học trong lúc bà ngồi bệt xuống thở hổn hển: 

- Thôi, hết nguy hiểm rồi. Dì nên bình tĩnh lại. Dì chú đã qua mặt ông tòa mà khỏi bóp kèn... Tài quá! 

Nàng rót nước uống một hơi, mất hết cả dịu dàng, kiên nhẫn. Nàng đã nói dối để cứu kẻ ác, trong lúc nàng chỉ muốn khai toạc hết sự thật. Nàng đã thấy sợi dây, nàng muốn Joss bị treo cổ bằng chính sợi dây hắn dùng treo cổ kẻ lạ trong đêm... Nàng muốn... nhưng vì dì nàng, nàng đã không dám tố cáo kẻ bất lương. Thật ghê tởm: Mary là đồng lõa của quân gian? Uống đến cốc nước thứ hai, Mary lại nhớ mình còn nói dối để cứu Jean, tên trộm ngựa. Nhục nhã, xấu hổ biết ngần nào?

*


Trưa đó, Joss trở về, được vợ đón ở cửa bằng một tràng dài, tiếng nọ dính tiếng kia. Mary ngồi yên ngoài vườn. Nàng thấy chẳng việc gì phải chen vô. 

Thỉnh thoảng, Joss gặng hỏi lại đôi câu, giọng bẳn gắt. Rồi ông ta đến cửa sổ, vẫy nàng, mặt cau có: 

- Về đây! Kể đầu đuôi nghe coi. Một con vẹt còn nói rõ hơn dì cô... 

Mary bình tĩnh kể lại câu chuyện, trừ chuyện ông tòa hỏi Jean. Sau cùng Mary nhắc lại lời ông tòa dặn nàng. Joss im lặng nghe, chờ Mary dứt lời, lão đá cái ghế ra tận cửa, gầm to: 

- Đồ hèn! Nó làm gì có quyền xét nhà? Trát tòa gì! Bịa! Vậy mà hai con ngu cũng để nó vô. Sáng nay mà có tao coi, nó sẽ về North Hill mà ngay vợ nó cũng không nhận ra và nó sẽ không còn ra con người nữa. Đồ chó má! Nó có quyền sinh sát với ai kìa, chớ tao thì... còn lâu. Rồi nó sẽ van lạy tao cho mà coi. Chà! Hai con ngu sợ dữ, há? Có ngày tao đốt nhà nó cho coi... 

Joss la to đến nỗi Mary tưởng tai mình điếc luôn. Nhưng cô gái không sợ tí ti nào. Cô biết đó là một cách... để đỡ tức, không có gì nguy hiểm. (Chỉ khi nào con người này thì thầm mới đáng gớm.) Có thể lão đang sợ cũng nên? Mary lấy làm thú vị mà nghĩ đến điều này. 

- Lấy gì ăn coi! Ta còn phải đi có việc đây. Patience! Câm họng lại, bà khóc làm ta điên thêm. Mary cô khá lắm. Ta biết ơn cô đó! 

- Bộ chú tưởng tôi làm vậy vì chú chắc? 

Mary nhìn thẳng vào Joss, hỏi. 

- Vì ai thì vì, ta không cần biết. Cắt miếng bánh coi! Đừng nói nhiều. 

Xong bữa ăn, Joss ra chuồng ngựa. Mary tưởng lão cỡi ngựa đi, nhưng lão lại thôi, ra bếp, leo rào và đi bộ, băng qua đồng hoang phía sau, tiến về phía núi đá Telbo-Hough. Nàng do dự, không biết có nên thực hiện điều dự tính chăng? Sau cùng, Mary cởi tạp dề, khoác khăn len, chạy theo Joss. Đến đỉnh đồi cô phải nấp sau tảng đá, chờ Joss đi khuất thật xa mới dám theo sau. Cô rẽ cỏ dại, bước tràn trên đá sỏi. Nàng nghi là sự có mặt ông tòa bất ngờ làm cho Joss thay đổi chương trình. Bây giờ đang xế trưa, rất dễ cho nàng theo dõi lão. Đất hơi khô, đá đông cứng, nhưng Mary đã có kinh nghiệm qua những bận đi dạo trước. 

Sau vài dặm, cuộc theo dõi bắt đầu khó hơn: nàng phải giữ khoảng cách khá xa mà Joss thì lại đi nhanh. Khỏi núi đá Codda, Merlyn rẽ qua hướng đông, lão chỉ là một chấm đen nhỏ giữa đồng hoang bao la nâu sẫm, dù lão vốn cao lớn. 

Chốc chốc, Mary phải dừng chân, lấy tay gạt mồ hôi trán. Trót theo khá xa, Mary không thể bỏ cuộc, ít ra phải khám phá được điều gì mới bõ công chứ? Nàng dẫm trên mặt đất nâu và đầy sình lầy, nước ngấm vào giầy vừa lạnh vừa nặng. Váy nàng bị rách lai vài chỗ và cũng ngấm nước. Đã qua đoạn đường nguy hiểm và phía trước, Joss mờ mờ qua đám cỏ gai rồi khuất sau tảng đá đen ngòm, mất hút. 

Giữa bụi rậm và bùn, Mary mất dấu Joss, phần sợ sa lầy nàng phải vòng lên trên và trượt chân mấy bận. Càng lúc đá lởm chởm thêm. Vài con dê rừng nghe tiếng động thò đầu nhìn Mary. Mặt trời núp sau những đám mây từ hướng tây tụ lại. Đồng hoang đổi mầu. Im lặng một cách dễ sợ. Khi Mary lên đến ngọn núi, xung quanh toàn mầu xám. Từ các vũng bùn, những làn hơi trắng mờ nhẹ bay lên. Trời như sắp tối. Joss biến mất tăm. Mary tuyệt vọng. Đành quay về thôi, nếu chần chờ, đêm nay nàng sẽ lạc giữa núi đá hay đồng hoang mất. Quả mình ngu – Mary thầm nghĩ – Trời tháng chạp mau tối, hoàng hôn trên đồng hoang rất ngắn, đêm xuống mau không có giai đoạn chuyển tiếp. Mà sương mù càng nguy hiểm: y như một hàng rào trắng dày, che phủ mặt, cách năm tấc, có khi không thấy chi hết. 

Mary chạy bổ xuống núi, bóng tối như đuổi gấp sau lưng. Ngay dưới chân nàng là nguồn sông Fowey. Phải tránh nơi đó, vì mặt đất quanh đó rất dễ lún sâu. 

Vòng phía trái, Mary thận trọng mỗi bước chân. Khi cô xuống đến đồng bằng, bỏ sau lưng ngọn Brow Willy uy nghi, cô độc thì sương mù và bóng đêm đã ngự trị khắp nơi, làm nàng không sao tìm ra phương hướng. 

Nàng cố trấn tĩnh tìm lối về nhà. Quấn chặt khăn quàng và kéo váy lên cao Mary bước nhanh. Bỗng nàng bị con suối chắn ngang, lúc đi đâu có suối? Nàng biết mình lạc đường rồi nhưng vẫn can đảm lội qua, nước lên tới gối. Nàng cho là mình rất may, vì suối không sâu hơn. Mặt đất cao dần, Mary yên lòng bước tới... 

Đường như dài bất tận, dẫn đến một ngã rẽ về phía phải. Cỏ mọc um tùm chứng tỏ ít người qua lại nhưng cũng có vết xe ngựa. 

Bớt lo lắng, nàng mới thấy mệt lử, cô gái lầm lũi bước, tim đập rộn ràng, hơi thở hổn hển. Nàng nôn nả mong thấy ống khói của lữ quán Giao Mai, như mong gặp bạn thân, nhưng một con đường khác nữa băng ngang giữa lối đi và nàng phân vân không biết nên theo lối nào. Cùng một lúc, có vó ngựa lại gần. Mary đứng lại giữa đường, chờ đợi. Thoáng chốc, bóng ngựa rõ dần, có người trên lưng. Người cỡi ngựa có vẻ sợ khi thấy Mary, kêu lên: 

- Ai đó? Có người phải không? 

Rồi nhận ra Mary, ông ta kinh ngạc, hỏi: 

- Một phụ nữ? Trời ơi! Bà đi đâu vậy? 

Mary nắm cương ngựa: 

- Xin ông chỉ giúp đường về, tôi đi lạc... 

- Nhưng cô ở đâu? Tôi sẽ giúp cô. 

Giọng ông ta chậm rãi, dịu dàng, Mary đoán là một người có thế lực. 

- Thưa ông, tôi ở lữ quán Giao Mai... 

Lỡ lời Mary chợt hối. Nghe tiếng đó, chắc ông giục ngựa dông thẳng mất? Người kia im lặng. Mary càng hoảng. Nhưng ông ta lại cất giọng dịu dàng, không thay đổi: 

- Vậy thì cô đang cách đó rất xa. Hiện đây là sườn đồi Hendra... 

Ông nhìn chăm chăm cô gái, tiếp: 

- Cô kiệt sức rồi. Làm sao đi nổi? Vả tôi cũng không nỡ bỏ cô ở đây một mình. Đây không xa làng mấy. Hãy theo tôi, lên ngựa. Đây! Tôi đỡ cô lên! 

Mary tuân lời người lạ. 

- Hãy về nhà tôi, sưởi ấm và khô giầy áo, ăn chút gì đỡ lòng rồi tôi đưa cô về lữ quán. 

Giọng ông ta âu yếm nhưng trang nghiêm, Mary muốn quên hết, tuân theo để được nghỉ ngơi giây lát. Nàng cho là may mắn nàng đã gặp người khả kính. Khi ông ngước mắt nhìn lên, Mary thấy rõ mặt ông ta: đôi mắt lạ lùng, trong như thủy tinh, gần trắng nhợt. Mary cảm thấy ông ta soi thấu tâm can mình. Tóc ông ta cũng trắng toát. Kỳ quá: ông ta đã già đâu? Khuôn mặt, giọng nói đều chứng tỏ ông còn trẻ. Nàng bối rối trong một thoáng khi nhận ra điều này: ông ta bị chứng bạch tạng. 

Người lạ giở mũ, nghiêng mình, tự giới thiệu: 

- Mặc dù cuộc gặp gỡ bất ngờ, tôi cũng cho cô biết: tôi là Francis-Davey, linh mục phó xứ Altarnun.
_______________________________________________________________ 
Xem tiếp CHƯƠNG VI