Thứ Ba, 13 tháng 1, 2015

CHƯƠNG 9, 10_TRÊN ĐỒI CỎ

9

Về đến trại, hai anh em vội lên phòng. Bàn tính hồi lâu, Tuấn mới rút được kết luận: Nùng Ô có thể chạy lẹ, nhưng khi biết có người để ý, lão làm ra vẻ như bị tàn tật. Nùng Ô không muốn gặp bọn trẻ. Sự việc xảy ra ở biệt thự Tùng Lâm chứng minh điều đó. Tuấn thêm:

- Lão không muốn gặp vì lão biết tụi mình ở trại Bích Câu. Anh còn nghi lão có dính líu vào chuyện đàn bò của chú Bảy.

- Chắc lão là phù thủy chính cống rồi. Nếu không có phép làm sao lão có thể đi trên gai góc ngon lành như vậy và biến mất một cách mau chóng không ngờ được?

Tuấn lắc đầu, không chấp nhận giả thuyết của em:

- Khó tin quá, chắc phải có lý do tự nhiên nào đó chứ. Anh không tin phép tắc bùa ngải gì hết. Chỉ có người ngớ ngẩn như Mai mới dễ tin những chuyện như thế.

Như không để ý đến câu chế giễu của Tuấn, suy nghĩ một lát, Mai nói:

- Tuấn ơi, em đã có cách biết tại sao rồi.

Thế là hai anh em lại châu đầu vào nhau thầm thì bàn tính.

*

Buổi chiều, chú Bảy, anh Mạnh cùng với các anh Minh, Danh lên thăm đàn bò. Chờ cho họ đi khuất, Mai, Tuấn mới xin phép cô Bảy cho đi theo. Được phép, hai đứa giả bộ đi về phía bãi cỏ, nhưng vừa khuất bóng trại, Cả hai rẽ sang con đường mòn dẫn tới vách đá. Mai, Tuấn mừng rỡ vì thấy dự định đã thành công được một phần. Tuấn khen em một câu:

- Lần đầu tiên Mai có ý kiến hay. Nhờ Mai mà tụi mình có thể ra đây một cách đàng hoàng. Anh còn thắc mắc điều này: Nếu chính Nùng Ô đã giết đàn bò của ông già Hách, tại sao lão chỉ làm cho đàn bò của chú Bảy sợ thôi?

Suy nghĩ, Tuấn tiếp:

- Có thể vì lão không dám. Lần thứ nhất người ta còn tin là đàn bò bị chứng đầy hơi chết. Hơn nữa ông già Hách có một mình, lại già yếu lẩm cẩm, Nùng Ô muốn làm sao thì làm. Đàng này chú Bảy còn trẻ, nếu lão giết đàn bò chắc chắn chú sẽ xin cảnh sát về điều tra, trước sau gì cũng tìm ra thủ phạm.

- Đúng rồi, Nùng Ô chỉ làm cho đàn bò sợ hãi, vì lão nghĩ chú Bảy sợ bò chết sẽ không nhốt bò ở trên bãi cỏ nữa.

- Đó là cách ép chú Bảy bán bãi cỏ và ông Thanh Quí có cơ hội mua lại. Tuấn nghĩ sự có mặt của Nùng Ô ở nhà ông Thanh Quí chứng tỏ họ đồng lõa trong vụ này.

Cả hai im lặng đi. Tuấn nhận xét:

- Nhưng cũng có thể một con thú rừng nào đó đã làm cho đàn bò sợ… cọp chẳng hạn.

Nghe nói tiếng “cọp” giữa cảnh núi rừng cây cối rậm rạp, Mai cảm thấy run, nhưng trấn tỉnh lại ngay:

- Trước tiên là trên này hết cọp rồi, bạn ơi! Nếu còn cọp sao chú Bảy dám nhốt bò? Hàng rào này nó chỉ nhảy “phóc” một cái là vô ngay có khó khăn gì.

Mải nói chuyện, Mai, tuấn đã tới gần khoảng đất gai góc lúc nào không hay.

- Mình lựa chỗ ít gai rồi đi lần vào.

Mai nhìn quanh rồi nói:

- Nếu có gì, mình có thể gọi người lớn ở đằng kia…

Tuấn tìm được lối có ít gai, rồi lần mò vào sát vách đá. Mai theo sát bên anh. Tuấn chợt ngừng lại:

- Mai coi kìa!

Mai vừa nhận ra giữa vách đá và lùm gai có một lối đi nhỏ. Nếu không vượt đám gai vào gần đây thì không sao nhận được con đường nhỏ này, vì bị gai góc mọc trên cao che khuất.

Tuấn có vẻ thắng thế:

- Mai thấy chưa, không có phép hay bùa ngải gì ráo. Nùng Ô biến mất theo đường này chứ còn đi đâu nữa.

Không chần chờ một phút, hai đứa lần theo con đường nhỏ. Cả hai thoăn thoắt bước qua đám cành cây khô chắn ngang con đường nhỏ dẫn đến trước cửa một cái hang ăn sâu vào trong núi. Cửa hang khá rộng, đủ chỗ cho hai người lớn đi lọt. Bên trong hang tối thui làm cho hai anh em không dám tiến thêm. Mai hỏi:

- Làm gì bây giờ? Vào coi không anh?

- Khoan đã, phải mang theo đèn. Lỡ có hố sâu thì sao?

Mai thử thò cổ vào rồi rụt ra, le lưỡi:

- Bên trong tối thui, không thấy gì hết!

- Về nhà tụi mình sẽ kiếm thêm một sợi dây, một hộp quẹt và một cây đèn cầy phòng khi hết pin.

Sợ trễ, cả hai vôi quay lại đường cũ rồi ra đường mòn, làm như mới ở trại Bích Câu tới.

*

Sáng hôm sau, chú Bảy với anh Mạnh lên rẫy sớm. Anh Mạnh hình như quên hẳn chuyện bữa trước, vừa đi vừa nói cười vui vẻ:

- Tôi hy vọng lần này mình đi làm rẫy ngay, khỏi phải lo mấy con bò trắng răng nữa, vì hôm qua tôi đã đóng cọc cột kỹ lắm rồi.

Chú Bảy nói:

- Lần trước, mầy không có lỗi gì hết. Tao bực mình không biết cái gì, con gì đã làm cho đàn bò sợ đến thế. Mầy nghĩ thế nào?

Mạnh ngần ngừ một lát rồi mới trả lời:

- Tôi cũng chẳng hiểu ra sao nữa!

Rồi mỗi người theo đuổi ý nghĩ riêng. Khi đến bãi cỏ nuôi bò, cả hai dừng lại sửng sốt: cửa ra vào đã mở tung, trên bãi cỏ không còn một con bò nào. Chú Bảy nhìn Mạnh, mặt anh bỗng tái nhợt.

- Mày nói sao? Mày đã đóng gióng kỹ, cài cẩn thận? Không lẽ bò biết mở cửa đi ra à?

Mạnh vừa sợ vừa tức, không biết nói sao. Anh đi vòng bãi cỏ xem xét, và chợt cúi xuống cầm lên sợi dây thừng một đầu còn buộc vào cọc cắm sâu dưới đất.

- Ông chủ coi đây này, nếu bò biết mở được dây cột cổ nó thì cũng biết mở được cửa!

Chú Bảy hiểu ngay là mình đã lỡ lời… Chú nghĩ ngay đến kẻ thù bí mật:

- Được rồi, lần này chính hắn rồi, không còn ai khác vào đây nữa. Nó sẽ biết tay ta.

Mạnh thấy cặp mắt nẩy lửa của chú Bảy nhìn về phía biệt thự Tùng Lâm.

- Thưa ông chủ, phải đi tìm đàn bò ngay mới được.

- Đi tìm, nhưng tìm ở đâu bây giờ?

- Phải đông người mới được. Ông đi báo cho cai Bần, ông chủ biệt thự đến giúp một tay.

- Tao đi kêu cảnh sát, may ra…

- Vô ích. Họ đến đây thì đàn bò đã đi xa rồi! Bây giờ tôi về nhà kêu bà chủ với mấy cháu lớn của ông. Hai người ít quá làm sao mà tìm cho ra!

- Đi lẹ đi, nhớ bảo thằng Minh tìm ông cai Bần rồi đi vòng qua sườn núi luôn nghe.

Chú Bảy nhìn dấu chân, hy vọng đàn bò đi cùng với nhau. Chú không giấu nổi vẻ tức giận. Nếu chú biết được thủ phạm, chú sẽ cho hắn lãnh đủ.

*

Mạnh về tới trại vừa thở hổn hển vừa báo tin. Cả trại sôi sục hẳn lên. Cô Bảy với chị Tư vội theo Mạnh đi tìm. Mấy đứa nhỏ phải ở nhà coi nhà. Mai, Tuấn hơi buồn vì không được đi theo. Minh, Danh cũng chạy đi báo cho cai Bần biết. Ra khỏi trại được vài trăm thước, Minh, Danh như hai cái máy tự động, cùng lùi lại núp vào hai gốc cây.

Trước mắt hai người, một bóng người to lớn đang chầm chậm bước đi. Cả hai vừa ngạc nhiên vừa lo sợ khi nhận ra đúng là bóng đen mà hai anh đuổi theo đêm nọ. Cũng cái đầu to dị hình, cũng cái thân to lớn. Thật ra, có lẽ người đó không cao lớn như hai anh thấy. Hình ảnh to lớn dị thường đập vào mắt hai anh là do chiếc áo mưa nhà binh mà người đó mặc. Đêm hôm nọ chắc hắn cũng mặc chiếc áo này, nhưng ban đêm, hai người không nhận ra. Toàn thân từ đầu trở xuống đều trùm kín trong chiếc áo mưa vừa dài lượt thượt, vừa rộng. Đích thị là hắn rồi, không nghi ngờ gì nữa.

Một con chó từ đâu chạy lại ngoe nguẩy cái đuôi mừng rỡ. Người đó cúi xuống vuốt ve con chó, mặt quay lại phía hai người. Cả hai cùng kêu lên:

- Ông cai Bần!

Minh, Danh như quên mọi nỗi lo sợ, bỏ chỗ núp đi ra. Danh hỏi nhỏ:

- Ông ấy đi đâu mà sớm vậy? Hình như từ phía biệt thự đi lên thì phải?

Con chó hướng về phía hai người sủa lên mấy tiếng. Cai Bần quay lại và nhận ra Minh, Danh.

- Kìa hai cháu chạy đi đâu vậy? Bộ có cháy ở trại hay sao?

- Dạ không! Chỉ có đàn bò của chú cháu đi đâu mất hồi đêm.

- Chắc không đóng cửa rồi. Hay lại quên đóng cọc?

- Chúng cháu không được rõ. Chú cháu nói bảo cho ông hay và nhờ ông tiếp tay kiếm dùm.

- Được rồi! Đêm qua bác ngủ ở dưới tỉnh, bác thấy… mà thôi bác đi ngay với các cháu. Quýt, lại đây con! Chắc mấy con bò không xuống núi đâu, chúng quanh quẩn đâu đây thôi!

Ba người đi vòng quanh sườn núi. Khá lâu, họ thấy hai con bò đang ung dung gặm cỏ dưới một đám cây lớn. Con Quýt như quen nghề, vừa thấy bóng hai con bò đã chạy tới đuổi trở lại đường cũ.

Cai Bần nói:

- Con Quýt của bác khôn lắm, gần như người vậy. Các cháu muốn biết bác nghĩ gì về một người nào, như Nùng Ô chằng hạn, các cháu cứ hỏi con Quýt này ắt sẽ biết. Mỗi lần đánh hơi thấy Nùng Ô ở xa xa, nó xù lông ra rồi sủa lên ăng ẳng. Bác tin vào giác quan của nó lắm. Cái gì nó thích thì tốt, cái gì nó ghét, bác cũng ghét. Giống vật không lầm đâu các cháu ạ!

Minh, Danh mỉm cười vì câu nói của cai Bần. Cả hai không biết nghĩ sao về ông. Hai người tin chắc rằng bóng đen đêm nọ chính là cai Bần. Vậy cai Bần đi đâu vào giờ mà đáng lẽ ông phải ở nhà?

Minh đang định hỏi xem cai Bần có hay đi đâu ban đêm không, thì cai Bần đã nói:

- Bác ít ra khỏi nhà ban đêm lắm. Một khi đã đuổi bò vào chuồng cẩn thận rồi, là bác yên tâm đi ngủ ngay cho tới sáng. Nhưng hôm qua, bác hết cả thuốc hút. Đối với bác, thuốc cũng như một người bạn. Thiếu bạn thì buồn. Nhịn ăn được chứ không nhịn hút được. Bác phải ra tỉnh mua ngay buổi chiều. Ngoài đó, bác có một người bạn cũ. Lâu lâu gặp nhau, ông ấy giữ bác ở lại chơi vì trời đã tối rồi. Bác không nỡ từ chối. Sáng ra bác phải về sớm. Nhưng bác lấy làm lạ không hiểu tại sao mấy người đốn củi vẫn thường mang thuốc cho bác biến đi đâu mất cả ba, bốn ngày nay rồi?

Minh, danh chỉ biết lắng nghe, không trả lời.

Ba người về đến bãi cỏ đã thấy cô chú Bảy, anh Mạnh, chị Tư đang đứng bàn tán bên cạnh mấy con bò đã tìm được. Thêm hai con của ba người tìm thấy là đầy đủ.

Cai Bần khôi hài:

- Mấy con bò của ông chủ trại thật tài, biết tháo thừng lại biết cả mở cửa nữa!

Chú Bảy không đáp lại, lẩm bẩm:

- Tôi mà biết đứa nào, thì cứ gọi là…

- Ông có nghi cho ai không?

- Có, mà không chắc lắm. Tôi có xuống biệt thự kêu ông Thanh Quí nữa. Giờ này mà lão còn ngủ say như chết, gọi mãi cũng chẳng thưa.

- Ai ngủ ngày thời hay đi ăn đêm. Ông nên coi chừng đấy. À tôi hỏi ông chủ điều này: Đêm qua ở dưới trại ông có thấy gì lạ không?

Chú Bảy lắc đầu thay cho câu trả lời. Cai Bần tiếp:

- Đêm qua tôi ngủ dưới tỉnh. Nhà lạ thành ra khó ngủ. Khoảng nửa đêm, tôi trở dậy đi ra ngoài, buồn buồn nhìn về phía Bích Câu. Bỗng nhiên tôi thấy hình như ở đầu nhà, một ánh lửa lóe lên hai ba lần rồi tắt hẳn. Một lát chỉ còn thấy một đốm lửa khi đỏ khi mờ. Tưởng trại của ông bị cháy tôi tính gọi người lên chữa, cũng may không có gì xảy ra.

Mọi người đều ngạc nhiên. Chắc cai Bần không lầm được, lão ở vùng này từ khi sinh ra cho đến giờ, lão quen hết mọi đường lối.

Ngừng một lát, cai Bần tiếp:

- Sau tôi mới hiểu có người hút thuốc lá.

Danh thắc mắc:

- Từ dưới tỉnh mà bác thấy đốm lửa ở đầu thuốc lá được sao?

- Đâu có khó khăn gì. Kinh nghiệm nhiều lần bác đã thấy như vậy. Từ đây ra tỉnh, đi bộ thì xa, chứ tính theo đường chim bay chỉ chừng hơn một cây số là cùng. Hơn nữa, trại lại ở trên cao không bị cây cối che khuất. Đêm tối như đêm qua lại càng dễ nhận.

Chú Bảy phân vân. Không lẽ cai Bần đặt chuyện cho vui?

- Tôi báo cho ông chủ trại biết mà đề phòng. Tôi phải về xem đàn bò của tôi coi chúng có giỏi như đàn bò này không?

Lão vừa nói vừa cười rồi quày quả ra về. Cô Bảy cố mời lão xuống trại dùng cơm, nhưng lão nhất định từ chối.

Cai Bần đã đi xa rồi, chú Bảy mới hỏi:

- Đêm qua có ai ra đầu nhà hút thuốc không?

Minh thay mặt cho bọn trẻ trả lời:

- Chúng cháu chưa bao giờ đụng tới điếu thuốc. Ba cháu cấm ngặt không cho hút.

Người trong trại không ai hút thuốc. Đêm qua không có ai ra ngoài. Vậy ai đã đứng rình mò ở đầu nhà?

Minh ghé tai nói nhỏ với Danh điều gì, Danh gật đầu đồng ý rồi quay về phía chú Bảy, anh ngập ngừng:

- Thưa chú, chúng cháu cho chú biết một chuyện…

- Vì muốn giúp chú tìm ra thủ phạm đã phá đàn bò, chúng cháu có lẻn ra khỏi trại lên rình trên bãi cỏ này, nhưng đêm hôm kia chứ không phải đêm qua.

- Và chúng cháu bắt gặp cai Bần đi dạo ngang đây… Vậy tại sao ông ấy nói từ lâu ông không hề ra khỏi nhà ban đêm trừ có đêm qua?

Chú Bảy trầm ngâm suy nghĩ. Chuyện Minh, Danh cho chú biết gây nên nhiều thắc mắc. Một lát sau, chú mới trả lời:

- Đáng lẽ các cháu phải hỏi ông ấy. Theo chú, ông ấy có tuổi nên có thể quên được. Hay là ông ấy hiểu ra khỏi nhà là chỉ khi nào xuống tỉnh, còn đồi núi này là nhà là vườn của ông ấy? Có thể lắm.

Từ hôm gặp cai Bần lần đầu, Minh, Danh có cảm tình nhiều với ông, nhưng bây giờ hai anh chợt nhận thấy trong thái độ của cai Bần có điều gì khó hiểu, bí hiểm làm sao ấy.

Mọi người trở về trại, còn chú Bảy quyết định ra tỉnh báo cho Ty Cảnh sát biết.

Sau khi trình bày tự sự, ông Trưởng Ty trả lời không có cách nào giúp chú được vì số nhân viên ở đây quá ít, không thể đến từng nhà canh chừng dùm được. Chú chịu khó tìm phương tiện riêng để đề phòng. Chỉ khi nào cần lắm, ông mới phái người lên tiếp tay.

*

Buổi trưa, chú Bảy mang từ trên tỉnh về một cái bẫy của người Thượng chế để bắt thú rừng. Chú mang xuống để dưới nhà ngang. Mai, Tuấn tò mò đứng xem. Chú dặn dò:

- Từ nay trở đi, không ai được đi ra đầu nhà ban đêm nữa. Ai không nghe lời, chết bỏ.

Nghe giọng nói gay gắt của chú Bảy, hai anh em lấm lét nhìn chú rồi đi lên nhà.

Câu chuyện đàn bò lần này ai cũng biết. Từ Xuân cho đến chị Tư đều tỏ vẻ lo lắng. Cô Bảy đứng ngồi không yên, cô cũng chẳng biết phải làm gì nữa. Mai, Tuấn cũng làm ra vẻ lo lắng đi lên đi xuống. Kỳ thực cả hai đang lo kiếm những thứ cần thiết cho cuộc “mạo hiểm sắp tới”. Tuấn tìm được một ít dây nhỏ vứt ở nhà ngang, một mảnh áo mưa đã cũ. Mai tìm thấy dưới gầm bàn thờ một bao diêm ai đánh rơi xuống đó từ bao giờ, với hai cây nến cháy dở. Tuấn soát lại đèn pin, mọi thứ cần thiết đã sẵn, chỉ còn chờ lúc thuận tiện.

Người lớn không ai để ý đến việc làm của Mai, Tuấn. Nhưng trưa hôm nay, chú Bảy bắt hai em phải ngủ. Thế là dự định đành phải bỏ. Nhưng Tuấn nói:

- Thế nào chúng mình cũng sẽ đi.

……………………………………

Đêm hôm đó, khi mọi người trong nhà đã ngủ, Mai, Tuấn theo nhau xuống sân. Sau khi khép cánh cửa, Tuấn quen tay đút chiếc chìa khóa cửa vào túi. Hai anh em ra sau nhà lấy gói vật dụng cần thiết rồi ra đi.


10

- Đường hầm sâu quá! Vô nữa không anh Tuấn?

Nghe Mai hỏi, Tuấn không đáp, chỉ giơ đèn ra phía trước để soi. Đường hầm sâu hun hút, ánh đèn quá yếu không soi sáng được bao xa. Càng đi, Mai, Tuấn càng có cảm tưởng mỗi lúc mỗi đi sâu vào lòng núi.

Đường hầm dẫn đến một cái hang rộng. Nóc hang cao hơn nóc đường hầm, lòng hang cũng rộng hơn. Tuấn thận trọng chiếu đèn quanh hang một lượt trước khi bước vào: Trong góc có nhiều thùng gỗ vuông, còn mới được xếp thành hàng. Hàng trên cùng hình như không có nắp. Hai anh em hồi hộp đến gần quan sát. Tuấn chiếu đèn pin nhón gót nhìn vào bên trong một cái thùng, thấy rõ những miếng đá đen như mun, hình như bị nung chảy ra. Tuấn mừng rỡ:

- Mai thấy chưa, đây đúng là một cái mỏ. Ông già hách đã đánh dấu trên tấm bản đồ đúng là chỗ này rồi. Hèn chi ông Thanh Quí không lấy mất của tụi mình. Biết có mỏ nên ông ấy đòi mua cho được bãi cỏ gồm cả khu này để khai thác.

- Nếu biết, ông ấy đã không cần tấm bản đồ của tụi mình. Đằng khác, chắc gì đây là một hầm mỏ? Mấy miếng đá đen nầy đâu phải là than đá!

Mai nghĩ: những thùng gỗ này có thể từ nơi khác được đem đến giấu tạm ở đây. Vì nếu là hầm mỏ, người ta phải chống cột, phòng đất khỏi sụp.

Tuấn tò mò khám phá thêm một đường hầm khác cũng nhỏ hẹp như đường hầm trước. Đi được một quãng, đường hầm lại chia ra làm ba lối hẹp hơn. Hai anh em lách theo một đường. Đường này lại dẫn đến một cái hang khác có hàng cột chống đỡ nóc hang.

Mai, Tuấn ngạc nhiên thấy trong hầm có một số bình hơi bằng kim loại. Trên chóp có khóa an toàn và hai ống cao su dẫn hơi. Tuấn như quên mọi nguy hiểm có thể đang chờ đón, vui vẻ bảo:

- Thấy chưa, đúng là hầm mỏ rồi. Có cột chống hẳn hoi nhé. Đây là những bình hơi, Tuấn thấy ở mấy tiệm hàn xì nhiều lần rồi.

Mai không chịu thua:

- Mấy bình hơi để hàn xì, nhưng ở đây thì hàn cái gì?

- Dầu sao đây cũng là một cái mỏ.

Sau lưng Mai, Tuấn bỗng vang lên một giọng nói mai mỉa:

- Giỏi dữ đa. Còn nhỏ mà đã lớn gan dữ vậy! Phách, mày tính sao đây?

Hai đứa trẻ sững người kinh sợ. Thoạt đầu hai đứa còn tưởng các anh đi theo hù chơi, nhưng khi nghe nói đến tên Phách, một tên lạ hoắc, mới cảm thấy sợ hãi vô cùng.

Một ánh đèn sáng chiếu thẳng về phía hai đứa. Trong khoảng lờ mờ, hiện rõ hai bóng người to lớn. Một giọng nói khác, Mai đoán là của người mang tên Phách, vang lên:

- Tụi bây vô đây làm gì? Cái tội tò mò này không tha thứ được! Đáng lẽ ở trường chúng mày phải học thuộc điều đó hơn là biết những bình hơi với đèn xì ở trong xó này.Thôi lại gần đây, hai tay sau lưng mau mau lên.

Mai, Tuấn không dám kháng cự, đành miễn cưỡng nghe lời.

- Phách à, phải nhốt chúng vào một chỗ để mình khỏi vướng cẳng đêm nay và đêm mai. Sau đó thì khỏi cần.

Phách càu nhàu:

- Tùy ý, muốn làm sao thì làm, nhưng phải coi chừng.

Một cánh tay lực lưỡng đẩy mạnh hai anh em ra khỏi hang rồi rẽ vào một đường hầm khác. Đường đi nhấp nhô, Mai, Tuấn thỉnh thoảng lại vấp phải một cục đá đau điếng. Đi một lúc lâu, Mai, Tuấn mới có cảm tưởng ra đến ngoài vì thấy gió thổi mát dịu. Thỉnh thoảng, vài cành lá thấp đập vào mặt Tuấn. Tới trước một cái chòi nhỏ, hai đứa bị đẩy vào trong. Giọng nói của tên Phách đầy vẻ đe dọa:

- Từ giờ trở đi phải câm họng, la lên một tiếng là rồi đời nghe.

Người kia khẽ giục:

- Chúng mày nằm xuống ngủ đi, có chiếu trải trên mấy tấm gỗ rồi đó.

Phách như chợt nhớ ra điều gì, ngăn anh em Tuấn lại:

- Khoan đã! Còn một việc phải làm gấp. Thắp đèn lên một chút.. Có giấy không đưa đây! À tụi mày gọi ông chủ trại bằng gì?

- Bằng chú!

- Còn bà chủ là thím à?

- Không, là cô.

- Được rồi, mau mắn như vậy tốt lắm!

Dưới ánh đèn, Mai, Tuấn thấy rõ một gã thanh niên còn trẻ, đầu đội cái mũ che kín cả tóc. Gã ngồi vào bàn kê ở góc phòng hí hoáy viết.

- Con bé lại đây! Mày biết viết không?

Mai gật đầu rồi đến gần bàn. Mai vừa nhận ra gã là người đốn củi mà hai anh em đã gặp trên rừng.

- Đây, viết lại mấy chữ này cho sạch sẽ. Không có gì phải sợ hết. Nếu ngoan ngoãn không ai làm gì tụi bay, còn ngược lại thì coi chừng.

Cổ họng Mai như thắt lại, hai hàng nước mắt chỉ chực tuôn ra. Mai gật đầu tỏ vẻ hiểu ý, rồi ngồi vào bàn. Vừa đọc qua một lượt, Mai kêu lên:

- Đâu có phải, tụi tôi đâu có đi chơi. Tại sao tụi tôi không về trại ngay hôm nay được? Chú tôi sẽ báo cảnh sát cho coi!

Người đàn ông cau mày:

- Chúng mày sẽ về, nhưng trễ hơn một bữa có sao đâu! Trong khi chờ đợi, để chú mày an tâm, hãy chịu khó viết đi.

Mai còn do dự, tên Phách quát:

- Tao nói lẹ lên. Đừng quên tụi tao có thể đối xử cách khác nhé, chừng đó đừng có hối hận… Đừng hy vọng cảnh sát tìm ra chỗ này.

Gương mặt, cặp mắt lộ vẻ dữ dằn kèm thêm nhưng lời đe dọa của hắn, làm Mai không dám trái lời. Mai hí hoáy viết như cái máy. Cuối thư Mai thêm vào mấy chữ: “Chúng cháu xin cô chú tha lỗi vì đã không xin phép cô chú!” Viết xong, Mai đưa lá thư cho người đàn ông.

- Khá lắm, tao không nghĩ tới câu xin lỗi đó. Thôi bây giờ ngủ đi. Tao sẽ ở đây canh chừng tụi bây. Còn Phách, đi làm việc của mày đi.

Tên Phách đi ra sau khi đã cất lá thư của Mai vào túi áo. Căn chòi chìm hẳn trong bóng tối. Mai, Tuấn nằm sát bên nhau cho đỡ sợ, nhưng vẫn thấy run. Chỉ một lúc sau, hai em đã ngủ say vì những biến cố dồn dập bất ngờ xảy ra làm chúng mệt nhoài.

*

Sáng hôm sau, tiếng chim ríu rít đánh thức Mai, Tuấn trở dậy. Bên goài trời đã sáng hẳn, vài tia nắng chiếu qua kẽ hở của bức vách làm lóa mắt Mai. Người đàn ông đã dậy từ lúc nào, đang lúi húi bên bếp lửa.

Tuấn thì thầm bên Mai:

- Chắc họ nhốt tụi mình ở đây cả ngày?

- Chưa biết được! Giờ này ở trại, chắc cô chú Bảy đã nhận được thư rồi. Thế là chẳng có ai đi tìm tụi mình nữa.

- Lúc về, mình có nói sự thật chưa chắc đã ai tin!

Tuấn tưởng tượng đến những hình phạt khi trở về, mặt nhăn nhó trông thật thảm hại.

Người đàn ông đứng dậy đi về phía hai đứa:

- Thầm thì gì đó? Dậy ăn sáng đi!

Mai, Tuấn uể oải ngồi dậy. Ban ngày nhìn rõ mặt người đàn ông, hắn cũng không có vẻ gì dữ lắm. Hắn xới ra ba bát cơm rồi bày lên bàn. Món ăn duy nhất là đĩa cá khô dim nước mắm.

- Tiếc một điều là lão Thanh quí không có thịt. Thôi có gì mình ăn nấy. Cá cũng còn ngon chán.

Câu nói nhắc Mai, tuấn nhớ đến ông Thanh Quí. Cả hai như vừa khám phá ra một điều: Chủ biệt thự Tùng Lâm đồng lõa với bọn này. Chắc ông biết có hầm mỏ và cũng với bọn họ khai thác.

Ba người ngồi vào bàn ăn. Mới đầu Mai, Tuấn thấy khó nuốt vì cơm khô, nhưng vì đói, ăn thấy ngon miệng, hai anh em ăn rất thật tình…

Bỗng nhiên từ xa vọng lại tiếng máy xe nổ dòn dã, tiếng nổ giống như tiếng máy xe của ông Thanh Quí. Tiếng máy mỗi lúc một nhỏ dần, hình ảnh ông Thanh Quí ngạo nghễ ngồi trên xe thoáng hiện ra trước mắt Mai, Tuấn. Hai em càng cho điều mình nghi ngờ là đúng sự thực.

Ở trại Bích Câu, chú Bảy đã trở dậy. Khi xuống dưới bếp, chú ngạc nhiên vì cửa bếp khép hờ không khóa, còn chiếc chìa khóa mọi khi vẫn treo ở cột biến đâu mất. Cô Bảy không giữ, anh Mạnh, chị Tư không mở cửa vậy chứ còn Minh, Danh? Dám hai cậu này lại lẻn ra ngoài nữa rồi. chú Bảy hé mở cửa phòng. Minh, danh còn đang say sưa ngủ làm chú không muốn đánh thức. Vậy còn Mai, Tuấn? Chú leo lên lầu đẩy cửa bước vào. Chú kinh ngạc khi thấy hai giường trống trơn. Hai đứa nhỏ đã đi đâu mất rồi? Ngay lúc ấy tiếng cô Bảy gọi:

- Mình ơi, có cái thư nè.

Chú vội quay xuống. Bắt gặp gương mặt hốt hoảng của vợ, chú cảm thấy xốn xang cả ruột gan như có chuyện không lành xảy ra. Cô Bảy nghẹn ngào:

- Mấy đứa này quá quắt lắm rồi. Anh coi đây này, thật không chịu nổi nữa.

Chú Bảy cầm lấy tờ giấy rồi đọc lớn tiếng:

“Thưa chú, thưa cô,

Hai đứa chúng cháu sẽ đi chơi cả ngày hôm nay. Chiều tối có khi chúng cháu chưa về kịp. Xin chú cô đừng lo lắng cho chúng cháu. Khi về chúng cháu sẽ kể cho chú cô biết chúng cháu đi đâu.

Chúng cháu xin lỗi cô chú vì đã không xin phép cô chú.

Hai cháu của chú cô,

Mai, Tuấn.”

- Thế này thì quá lắm, không tưởng tượng nổi.

Cô Bảy lo lắng:

- Đi cả ngày, rồi chiều nay không chắc có về không! Trời ơi, đi đâu thế không biết? Mà chúng nó có thể đi đâu được chứ?

Chú Bảy lắc đầu ngao ngán:

- Hai đứa này thật đáng đánh đòn và bắt phạt ăn cơm với muối cả tuần nữa.

Cô Bảy không nghĩ đến hình phạt, cô chỉ lo có sự nguy hiểm xảy đến cho hai cháu nhỏ. Cô đọc đi đọc lại lá thư nhiều lần như cố tìm một điều gì. Nét chữ này đúng là của Mai rồi. Cô không ngờ hai đứa to gan thế. Cô lẩm bẩm:

- Có lẽ phải đi báo cho cảnh sát biết mới được.

*

Minh và Danh dậy trước khi chú Bảy về. Cô Bảy cho hai anh biết chuyện vừa xảy ra. Minh nghĩ ngay có thể hai em đã trốn lên thăm cai Bần. Nhưng cô Bảy không tin như vậy.

- Cai Bần không giữ chúng nó lại làm gì đâu. Ông ấy phải hiểu mình lo lắng chừng nào nếu không thấy chúng nó về.

- Biết đâu Mai chẳng bày chuyện gạt ông ấy?

- Cai Bần đâu có phải trẻ con.

Cô Bảy mắc bận phải đi làm ngay. Còn lại Minh, Danh tần ngần bên bức thư.

- Cậu có thấy gì lạ trong bức thư không, Danh?

Danh chăm chú đọc lại một lần, rồi lắc đầu:

- Đâu có gì lạ. Đúng là nét chữ của Mai rồi.

- Thế cậu không để ý cách xưng hô đảo lộn lung tung của Mai sao? Này nhé, bọn mình bao giờ cũng nói “cô, chú”, khi thưa gửi điều gì cũng vậy.

- Ừ, đúng rồi.

- Thế mà trong thư này con nhỏ lại viết; “thưa chú, thưa cô”, rồi xin “chú, cô”, sẽ kể cho “chú, cô”! Hoàn toàn trái ngược với lối xưng hô hằng ngày.

Danh vội kết luận:

- Vậy Mai không phải là tác giả lá thư này?

- Chưa hết, hàng cuối cùng Mai lại viết: “xin lỗi cô chú… xin phép cô chú!” Trước khi ký tên còn viết: “hai cháu của chú cô”. Cứ chú cô rồi lại cô chú loạn cả lên.

Minh suy nghĩ một lát rồi nói:

- Ý kiến của cậu có thể đúng phần nào. Ví dụ có người đọc cho Mai viết, họ không quen cách xưng hô của tụi mình, nên đặt lộn xộn. Còn hàng cuối cùng biết đâu không do Mai viết ra. Trường hợp thứ hai là vì gặp chuyện gì cấp bách hay sợ hãi quá, Mai không đủ bình tĩnh nên viết lộn xà ngầu.

- Theo ý tớ, cả hai trường hợp cậu vừa kể đều không hay cho Mai, Tuấn. Tụi mình phải đi tìm hai em ngay mới được.

*

Chú Bảy từ trên rẫy trở về trại, mặt lộ vẻ lo lắng:

- Thằng Mạnh đã về nhà chưa mình?

Cô Bảy sửng sốt:

- Ủa, thằng Mạnh đi với anh mà!

- Vậy nó biến đâu mất từ khi tôi qua biệt thự Tùng Lâm? Sao lắm chuyện thế này?

Minh hỏi xen vào:

- Chú có gặp ông Thanh Quí không ạ?

- Không, cửa trước cửa sau đóng kín mít, chú gọi mãi chẳng có ai trả lời. Có lẽ lão không có nhà, hay có nhà mà không muốn mở cửa cho chú. Nhưng chú thấy hình như lão mới đi đâu sáng nay vì chiếc xe không có trong nhà sau. Đằng trước sân có mấy vết dầu còn mới.

Minh đưa mắt nhìn Danh, hai anh nhìn nhau như ngầm hiểu chuyện gì sau câu nói của chú Bảy.

Cô Bảy lo lắng:

- Hay anh đi báo cảnh sát?

- Cảnh sát cái gì? Lỡ hai đứa đi chơi, có phải mình quấy rầy người ta vô ích không! Tôi chưa muốn báo cảnh sát, chờ xem sao đã. À chú chưa cho hai cháu biết, ngày mai chú sẽ cho hai đứa nhỏ về saigon. Chứ ở đây, cứ điệu này chúng nó làm chú điên đầu mất.

Cô Bảy chợt nói:

- Bây giờ nghĩ lại, tôi tự hỏi hay chúng nó lên thăm cai Bần rồi khi về mải chơi đi lạc trên núi chưa biết chừng. Anh lên hỏi cai Bần xem!

- Tôi đi bây giờ. Tiện thể hỏi luôn chuyện đêm nọ cháu Minh với cháu Danh gặp lão. Lão có vẻ mờ ám sao đó. Hình như lão vẫn coi mình là người lạ đến vùng này.

Chú Bảy ra đi. Dọc đường chú gặp anh Mạnh đang vội vã chạy từ phía Tùng Lâm về. Hỏi đi đâu, Mạnh trả lời lấp lửng:

- Tôi thấy có cái gì là lạ bên đường, tôi rẽ vào xem rồi đứng chờ ông về, nhưng ông đã về lúc nào rồi, làm tôi phải đợi mãi.

Chú Bảy có cảm tưởng Mạnh tránh nhìn thẳng vào mắt chú. Hình như Mạnh vừa nói dối.

- Thôi về trại lẹ đi, lát nữa tôi sẽ hỏi lại.

Xem tiếp CHƯƠNG 11, 12

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét