Thứ Tư, 4 tháng 2, 2015

CHƯƠNG IX, X_NGỌC BÁU NGAI VÀNG

CHƯƠNG IX

MỘT LỌN TÓC

Xạch một tiếng. Bác Phối hãm máy ngưng lại. Không khí trong phòng khách im lặng nặng nề. Bác thở một hơi dài nghe thật não ruột. Kẻ nào xoá bản nhạc thâu thanh này đã xoá luôn niềm hy vong gỡ tội của bác.

Bác lẩm bẩm như người ngủ mê:

- Lạ quá! Thế này thì lạ thật! Trời ơi!

Tiếng “sếp” tôi:

- Đúng là có kẻ nào đó biết cuộn băng thâu nhạc này có thể gỡ được tội cho bác nên đã “xoá” hết đi. Bác thử nhớ lại coi từ lúc bác thâu cho đến bây giờ đã có ai được nghe chưa?

- À, có chứ! Chính là bà chủ đã sai bưng khay đồ ăn lót dạ vào tận phòng khách này để vừa ăn vừa nghe mà.

- Ngoài bà chủ ra, còn có ai được nghe nữa không?

- Bà Hiển, người vẫn làm giường cho bà chủ đó. A, còn, còn, hình như cả tên tài xế mới cũng có vào phòng khách để nhận lệnh bà chủ.

- Tên tài xế mới…? – Trí và tôi đồng thanh nói hơi to.

Bác Phối:

- Phải, tên tài xế mới!

- Hắn, người ngoại quốc phải không? Trông như chà-và ấy?

Bác Phối cũng thất thanh:

- Đâu có! Hắn cũng người Việt!... Hay là hắn khai thế, tôi chẳng rõ lắm. Có điều hắn nói tiếng Việt cũng như mình vậy. Tuy nhiên nghe thật kỹ thì cũng có một vài tiếng lơ lớ. Như: “tôi” hắn nói là “chôi”, “ăn” lại thành ra “ắn” chẳng hạn.

Trí giương mắt, đôi tai vểnh lên như tai chó săn. Anh đưa tay ra hiệu cho bác Phối nói tiếp:

- Hắn ta mới đến làm từ tối hôm qua sau khi bà chủ lãnh tôi từ trại giam về một chút. Hắn xin phụ trách chức tài xế phụ. Giấy tờ đàng hoàng lắm nên nhận ngay. Cũng may cho bà chủ là tôi bị thu bằng lái xe thì hắn lại đến đúng lúc…

Trí giọng chua như dấm:

- Hừ! Đến đúng lúc! Theo tôi thì đã có sự tính toán kỹ càng từ trước rồi. Hình dáng tên tài xế mới này ra sao, bác Phối?

- Gầy cao, dáng đi lom khom…

Tôi giật thót mình: “gầy cao, dáng đi lom khom”. Đúng là những chữ cậu Hải Minh đã dùng viết trong lá thư khi tả hình dáng tên Kha Bỉ. À, vậy thì giả thuyết tôi tự nêu ra riêng cho mình về vụ tai nạn xe hơi này có mòi khớp quá.

Tiếng bác Phối tiếp tục:

- Hắn có khuôn mặt kiểu lưỡi cày và…

Và bác tài chưa kịp nói hết thì đã thấy bà Huỳnh Lan Anh ào ào bước vào phòng khách. Chưa kịp thấy người đã nghe tiếng nói như bắp rang:

- Ấy, ấy cứ ngồi, cứ ngồi đi… Tội nghiệp chú Phối quá. Thôi đừng buồn nữa nghe, Phối! Cười đi chút nào… Hà hà! Có thế chứ! Được rồi! Á, à các chú nhỏ Chiêm, Trí đó hả? Này, kẹo ngon đây, ăn đi các em. Kẹo Nhật đấy, ngon lắm, ăn đi!

Tôi đã biết bà Huỳnh Lan Anh lắm. Một khi bà đã mở máy nói, thì thôi, không còn gì có thể ngăn lại được nữa. Đôi chân bà bước lạch bạch như vịt bầu, áo dài lá hoa sặc sỡ, cứ luôn tay hất hất cái khăn choàng ở cổ. Cái khăn choàng màu hồng, dài lê thê, trời nóng thế mà cứ thấy bà hễ mặc áo dài đi đâu là thế nào cũng phải đeo vào, khăn gì mà lại làm toàn bằng lông chim mầu hồng. Kỳ thật! Chị An tôi kể chuyện rằng cái khăn ấy có một cái tên rất lạ: Mãng xà! Nhìn kỹ, quả nhiên, người ta nghĩ ngay đến một con rắn lớn. Mà lại là con rắn lớn màu hồng. Cái mới kỳ!

Chẳng hiểu bà Anh để gì trong chiếc khăn quàng quái dị đó mà cứ thấy bà ta móc mãi, móc mãi mới lôi ra được một cái túi rất xinh đính hạt trai muôn màu, miệng túi thắt bằng hai cái giải lụa xanh thật đẹp. Một chiếc lại mắc rối vào đám lông dầy đặc của “mãng xà” khiến bà mở hoài không ra miệng túi. Mãi sau mới lôi ra ở trong cái túi quý đó ra một… gói kẹo, đưa cho chúng tôi. Xong bà buông người ngồi phịch xuống cái ghế bành, thở ra một cái phào. Ý chừng việc móc gói kẹo từ chiếc túi nhỏ ra làm cho bà bị… mệt nhọc quá thì phải.

Máy nói lại bắt đầu phát thanh:

- Úi chà, chà! … Mệt! Ôi, ngày hôm nay sao lắm chuyện thế này, không biết. Thật chẳng còn biết đàng trời nào mà mò nữa: nào chú Phối bị bắt giam rồi lại được tạm tha. Rồi lại chuyện ông Hoàng Tử chiều nay sang tới nơi này. Ôi chà! Ông Hoàng ấu thơ… tội nghiệp. Ngai vàng của ông…! Trời, đúng là một thảm kịch! Giá mà anh Phan còn sống! Phải, nếu còn sống, chắc chắn anh sẽ giải quyết được mấy vụ này dễ như chơi.

Bà chủ đột nhiên ngưng nói, đưa tay lên bóp trán:

- À, thế nào? Chú Phối? Hoa đâu? Hoa thược dược đó, đâu? Đi hái cho tôi đi, lẹ lên. Rồi còn đem cắm trong phòng khách rồi lại trong xe. Chiều này đi đón ông Hoàng đây này.

- Vâng, để tôi đi hái ngay đây, bà chủ!

- Và chú nhớ bảo anh… gì đó nhỉ? Tên anh ta là gì hả chú Phối? Anh tài xế mới đó! Bảo anh ấy sửa soạn xe để ra phi trường đón ông Hoàng Tử nghe – A kìa, tôi đã mua thêm một bó hoa hồng kia. Để tôi phải đem đi cắt xén lại mấy cái lá mới được…

Rồi lại ào ào, bà Lan Anh theo chân bác Phối, bước ra ngoài.

Trong câu chuyện nói nhanh và to của bà chủ, tôi nghe nổi bật nhất mấy tiếng: “ông Hoàng tử” – chắc là Hoàng tử Hà Lam chiều nay tới nơi.

Kể từ khi nhận được lá thơ cậu hải Minh, tôi cứ luôn luôn tự hỏi: tại sao một ông hoàng tử tại một vương quốc xa xôi thế lại cứ phải qua Saigon theo học mới được. Sao không học ở Anh quốc, hoặc ở Pháp, Mỹ, Úc có phải tiện lợi hơn không… khỏi phải học tiếng Việt Nam vốn là một ngôn ngữ nói rất khó vì những dấu huyền, sắc, hỏi, nặng, ngã.

Đem thắc mắc nhờ giải đáp, ba tôi cho biết như sau: kỹ sư Phan, chồng bà Lan Anh, hồi còn sống, sinh quán ở Saigon, vùng Phú Định. Khi đậu xong bằng kỹ sư Địa chất Học, ông đã đi làm việc tại nhiều nơi trên thế giới. Chính ông đã khám phá được nhiều mỏ dầu hoả và mỏ kim khí quý giá vô cùng tại Ca-sa quốc. Ông đã giúp quốc vương Ca-sa-bỉ-ba làm cho dân giàu nước thịnh. Và cũng chính ông dạy cậu bé Hoàng tử Hà Lam nói được cái ngôn ngữ mẹ đẻ của ông, véo von trầm bổng như chim hót là tiếng Việt. Và tuy đối với quốc vương Ca-sa-bỉ-ba ơn sâu nghĩa nặng như thế, hai ông bà vẫn tưởng nhớ nơi cắt rốn chôn rau. Rồi sau một thời gian làm ăn, thu hoạch được một số vốn rất lớn, ông Phan trở về quê cũ tại miền Phú Định, ngoại ô Saigon, xây cất một ngôi biệt thự vĩ đại cho bà vợ yêu, đồng thời cùng vào Hội Bảo Trợ học đường ở đây một số tiền đủ kiến thiết một cơ sở có thể thâu nhận tới ba ngàn học sinh Trung học.

Từ khi kỹ sư Phan mất đi, bà Huỳnh Lan Anh vẫn ở tại ngôi biệt thự này, sống với kỷ niệm của người chồng yêu quý. Bà vẫn liên lạc thường xuyên với vị quốc vương Ca-sa-bỉ-ba, người nhớ ơn vợ chồng bà, cứ một năm hai lần lại gởi kính tặng bà những số tiền khổng lồ. Về phần bà Lan Anh, bà vẫn coi gia đình vị vua hiền đức ấy như gia đình mình và coi con cái của người như con mình vậy. Do đó, khi vua cha băng hà, bà Lan Anh tiếc thương vô cùng cùng một người bạn tuy khác màu da nhưng tấm lòng vàng không khác ấy, mới đề nghị với các vị trung thần của vua Hà Kim thu xếp cho Thái tử Hà Lam qua Saigon tiếp tục việc học.

Ra ngoài chưa được năm phút, bà Huỳnh Lan Anh đã quay vào. Bà buông người ngồi phịch xuống một chiếc ghế bành, lim dim đôi mắt, tay phe phẩy quạt bằng mấy cái lông màu hồng của chiếc khăn mãng xà.

Bỗng cánh cửa phòng khách chợt mở toang. Tên tài xế mới bước vào.

Hắn chắp hai tay, lễ phép:

- Thưa bà chủ, xe đã sẵn sàng.

Bà Lan Anh giựt mình mở choàng mắt:

-Cái gì? Xe hả? À, ừ tôi phải đến phòng Hội một chút! Chết chưa! Trễ mấy phút rồi này! Ê, các chú nhỏ, kẹo đây, ăn nữa đi các em.

Thế rồi, sau khi đặt vào lòng bàn tay tôi và Trí mỗi đứa một nắm kẹo, bà lại ào ào theo tên tài xế mới bước ra ngoài, biến mất sau cánh cửa phòng khách.

Người tài xế này hình dáng trông giống hệt như nhân vật cậu Hải Minh đã tả trong thư khi nói về tên Kha Bỉ.

Tôi biết là Trí cũng nghĩ giống tôi, vì liếc nhanh, tôi thấy anh lúc đó, cũng chăm chú ngó người tài xế dữ lắm.

Nhưng có một chi tiết khiến tôi hoang mang hết sức. Trong thư, cậu Hải Minh cho biết tóc Kha Bỉ đen nhánh, mà tóc tên này lại màu hung hung như tóc các em nhỏ chăn bò ở nhà quê mà không chịu đội nón vậy.

Khi hai anh em đạp xe về nhà, chạy song song bên nhau, tôi với Trí đều đã suy nghĩ về vụ tai nạn đụng xe giả tạo. Và tôi kết luận:

- Mọi điểm tôi nghĩ đến đúng phong phóc cả, duy chỉ đến khi thấy tên tài xế mới là lại đâm ra hoang mang chứ!

Trí điềm tĩnh:

- Rồi sao, nói đi, Chiêm! Mình thấy Chiêm có nhiều ý kiến hay lắm!

- Thôi để tôi nói lại rõ ràng cho CT1 nghe: theo tôi nghĩ, thì vụ đụng xe hoàn toàn giả tạo, nhằm mục đích duy nhất là khiến bác Phối bị tịch thu vĩnh viễn bằng lái xe. Lợi dụng tình thế đó, tên Kha Bỉ mới chen vào xin tranh việc làm của bác. Để làm gì? Để có dịp bới tìm lục lọi trong chiếc xe Rolls Royce đặng kiếm cho ra cái mà chúng đang truy lùng. Có thể là một báu vật hay một bức bản đồ bí mật gì đó. Ấy là chưa kể đến Thái Tử Hà Lam mà chúng sẽ có thể theo dõi từng li từng tí một.

Trí reo lên:

- Khá lắm, CT3! Nhận xét của CT3 hay vô cùng! Và sự việc quả đã diễn tiến đúng như CT3 nói.

Lời khen thành thực và nồng nhiệt của Trí vẫn chưa khiến được tôi vui sướng lắm, vì:

- Nhưng, giả thuyết của tôi bắt đầu bắt đầu lung lay kể từ lúc ngó thấy tên tài xế mới mà tụi mình vẫn nghi là Kha Bỉ đó! Trong thư cậu Hải Minh đã chẳng nói rõ cả màu tóc của y rồi đó sao?

Trí điềm đạm cất tiếng hỏi:

- Thế Chiêm từ xưa tới nay chưa hề nghe nói tới thuốc nhuộm tóc bao giờ sao?

Tôi giật thót mình, chút xíu là quăng cả xe đạp xuống mặt đường. Tóc nhuộm! Trời đất! Có vậy thôi mà sao tôi không nghĩ ra nhỉ?

- Một tên cạo tuột bộ râu, một tên nhuộm nâu bộ tóc, thay hình đổi dạng, biến thành dân Việt Nam chính cống. Bây giờ đã nghiễm nhiên lọt vào nhà bà Huỳnh Lan Anh.

Tôi chợt nhớ ra:

- Tên Du Đả còn nằm nhà thương mà.

- Chưa chắc! Bữa đó hắn ta có bị thương tích gì đâu, chịu khó tìm kiếm thế nào cũng sẽ thấy y chỉ quanh quẩn dò thám ngay gần bên biệt thự Lan Anh thôi hà! Để về nhà tụi mình quay điện thoại gọi hỏi Bệnh Viện Chợ Rẫy coi!

Về tới Trụ sở, Trí gọi dây nói ngay. Anh đoán đúng. Nhân viên bệnh viện cho biết người bị đụng xe tại ngã tư Cao Thắng - Phan Thanh Giản bữa chủ nhật đó đã ra về ngay sau khi được bôi thuốc đỏ sơ sơ trên hai vết trầy trụa ở đầu gối.

Tôi bâng khuâng:

- Anh bảo hai tên Ả Rập này sẽ bới tìm lục lọi trong chiếc xe Rolls Royce không bỏ sót một góc kẹt. Nhưng chúng muốn tìm cái gì chứ?

- Hiện giờ thì chúng mình chưa biết. Ngoài ra còn việc khác nữa đây này: bác Phối bị lôi thôi rắc rối vì một tội trọng mà chính bác không gây ra, hai là chiều nay đây, Thái Tử Hà Lam tới Sàigòn này.

Rồi sau mấy phút suy nghĩ, Trí nói tiếp:

- CT3! Việc đã đến tay rồi! Phải hành động gấp, vì hai lý do: thứ nhất, lễ đăng quang của ông vua mới sẽ tổ chức vào ngày thứ sáu sau, nếu tôi không lầm. Thứ hai, ngày thứ Hai sau bữa thứ sáu đó, chúng mình đã phải tựu trường rồi. Thấy chưa? Không còn có thể lờ phờ được nữa đâu.

Dứt lời, anh đưa mắt nhìn tôi chăm chú và tôi cảm thấy một luồng khí lạnh chạy dọc theo xương sống. Tôi bất giác nhẹ rùng mình. Cứ mỗi lần như thế là, thế nào anh cũng sắp sửa giao phó một hay hai công tác gì đó rất gay go cho tôi.

Y như rằng. Giọng nói của Trí đanh lại:

- CT3! Làm bất cứ cách nào đem về cho tôi một lọn tóc cắt ở mớ tóc trên đầu tên Kha Bỉ!



CHƯƠNG X

VỊ HOÀNG TỬ

Đêm đó, trong giấc mơ, tôi thấy toàn những người đàn ông tóc hung đỏ nhẩy múa tưng bừng, hát hỏng hò reo như chế riễu. Tôi đâm lo và chỉ mong Trí đổi ý. Nhưng khi đến nhà anh, liếc nhanh nét mặt “sếp” một lần nữa, tôi lại khổ tâm vì rõ biết Trí là một cỡ người không bao giờ thay đổi ý định.

Anh nói với tôi:

- Thái Tử Hà Lam qua đây rồi!

Tôi bĩu môi:

- Tưởng cái gì chứ? Ai chả biết. Bà Lan Anh đã nói từ hôm qua mà!

- Mà tôi muốn bảo với Chiêm rằng Thái Tử Hà Lam hiện đang ở đây, nghĩa là ở trong nhà tôi, trong văn phòng của ba tôi nè!

Tôi chưa kịp ngạc nhiên đã cảm thấy đôi mắt Trí nguýt không khác một lưỡi dao cạo lướt nhẹ trên má.

A! Nếu vậy thì ra bà Huỳnh Lan Anh đã đưa hoàng tử Hà Lam tới đây giới thiệu với giáo sư Bích Tâm. Bà biết ông Bích Tâm, ba Trí, dạy môn Sử Học tại Đại học Văn Khoa Saigon và chắc chắn thế nào Hà Lam cũng phải học giáo sư Bích Tâm ít nhất bốn giờ một tuần.

Giọng Trí nghe hăm hở rõ rệt:

- Sáng nay bà Huỳnh Lan Anh đã đưa Hà Lam tới đây và rồi ba tôi sẽ dẫn “ông” ấy tới thăm qua trường đại học. Ê, Chiêm, đây là lần đầu tiên tụi mình thực hiện được cái mộng tiếp xúc với một vị hoàng tử đấy nhé. Ấy, hơn thế nữa chứ! Một Đông Cung Thái Tử, người kế vị chính thức ngai vàng của Ca-sa-bỉ-ba quốc.

Thần thái khích động của Trí lây sang tôi: quả thật đây đúng là lần đầu tiên trong đời tôi được nhìn tận mặt một vị hoàng tử… thứ thiệt. Hai anh em thả bước băng qua bãi cỏ ngoài vườn sắp sửa bước vào nhà, đột nhiên tôi ngừng chân lại và tự nhiên giọng nói nghe nghèn nghẹn:

- À, anh Trí! Xưng hô với một vị hoàng tử thì xưng hô thế nào, hả?

Trí vênh mặt, “lên lớp” ngay:

- Kính thưa Đông cung thái tử chứ còn gì nữa?

- À, vậy tôi phải nói: “Kính thưa Đông cung Thái tử mạnh khoẻ ra sao?” và “Kính thưa Đông cung Thái Tử, Saigon có làm vui lòng Đông cung Thái Tử chăng?”, phải không anh Trí?

Thay vì trả lời, Trí chỉ lườm tôi một cái. Và tôi hiểu ngay cái lườm ấy có nghĩa là tôi ngốc nghếch như một cậu bé mới ở nhà quê lên Saigon và tốt hơn hết là tôi nên im đi đừng hỏi nữa.

Ấy vậy mà chưa chắc tôi đã “quê” như “sếp” đã tưởng. Khi gặp “ông” Hoàng Tử, tôi cảm thấy ngay chẳng có gì là khó khăn cả. Trông “ông” cũng không cao lắm, hơn tôi chừng ba hay bốn phân gì đó thôi, vóc người mảnh dẻ, có thể nói gầy là khác. Tóc đen nhánh, mắt cũng vậy, và nước da thì rõ ràng là sậm hơn màu da của chúng tôi mặc dầu nắng gió Saigon cũng đã khiến cho chúng tôi không còn trắng nhễ nhại như mấy chú lười hoạt động chỉ chúi xó ở nhà nữa. Và cứ đinh ninh là sẽ phải đối diện với một vì Hoàng Tử Ả Rập đầu quấn khăn vành rế to tướng bằng lụa trắng dát ngọc, áo bào dài lướt thướt và chân mang ủng gấm thêu rồng phương như đã nhiều lần nhìn thấy trên màn ảnh. Thái tử Hà Lam lại chỉ phục sức giản dị như mọi sinh viên Việt Nam khác: quần hàng len xám, áo sơ mi và veston trắng.

Khi hai anh em bước vào văn phòng giáo sư Bích Tâm, thì thấy ông đang đứng cùng với Hoàng Tử Hà Lam chăm chú xem mấy cái giấy tờ gì đó.

Giáo sư Bích Tâm, khi chợt trông thấy tôi, lên tiếng:

- A, cháu Chiêm! Ô may quá, cả hai anh em đều có mặt, tốt lắm. để bác giới thiệu với Thái Tử Hà Lam.

Trí tiến lên một bước, miệng lẩm bẩm nói cái gì đó, cúi người thật thấp: “Rất hân hạnh! Rất hân hạnh! Kính thưa Thái Tử!”.

Riêng tôi, tôi chỉ muốn giơ tay bắt tay ông Hoàng Tử một cái có phải tiện bao nhiêu không? Nhưng trước cử chỉ và thái độ kính cẩn của Trí, tôi đâm ra ngập ngừng do dự nên cũng sửa soạn bắt chước làm theo anh. May sao ông hoàng tử đã vội đứng lên chấm dứt ngay cái nghi lễ phiền phức ấy. “Ông” đi vòng bàn giấy tiến tới, giơ hai tay niềm nở, đôi môi tươi mấp máy nói tiếng Việt rất thạo:

- Ôi chà! Ôi chà! Hai anh cứ gọi tôi là Hà Lam như thường đi và xin tạm quên tôi là một vị hoàng tử nhé! Cứ việc đối xử với tôi, coi tôi như mọi sinh viên khác ở Saigon này, nghe!

Lập tức, Trí ngẩng phắt đầu lên. Liếc mắt nhìn lẹ, tôi thấy rõ mặt anh đỏ như quả gấc chín khiến tôi suýt nữa phì cười nếu không cố bấm bụng kìm nhanh lại được. Vừa may, bác Bích Tâm đã vui vẻ:

- Đây! Bác cùng Thái Tử Hà Lam vừa mới duyệt qua chương trình trong niên học năm nay đây. Và bác cùng Hà Lam định đi thăm trường Đại Học Văn Khoa một chút. Hai anh em có muốn cùng đi cho vui không?

Trí và tôi sốt sắng xin ông Bích Tâm cho đi theo. Cả bọn ra xe của ông. Tôi biết rõ trường Đại Học Văn Khoa, nhưng được đến thăm trường trong những ngày nghỉ hè lại là một cái thú đặc biệt lắm. hàng phượng vĩ hoa đỏ tán xanh toả bóng râm mát như đứng chờ các anh các chị sinh viên đến chuyện trò tâm sự, bàn cãi tranh luận về bài vở. Sân trường rộng rãi vắng hoe, trông buồn man mác như thiếu thốn một cái gì. Trong khi tôi đang thả hồn mộng mơ nhìn ngắm quang cảnh, Trí chỉ hăm hở hỏi chuyện ông Hoàng tử Ả Rập. Anh nóng ruột, nét mặt đăm chiêu thấy rõ, và chỉ thở ra một cái “khì” khi được ba anh đưa tất cả vào phòng hội, nơi các giáo sư vẫn thường lui tới họp bàn. Vừa ngồi yên chỗ, anh đã thao thao hỏi ý kiến của Hà Lam về Saigon thủ đô nước Việt ra sao.

Hà Lam giọng nói trịnh trọng lễ độ:

- Dĩ nhiên là mọi cái đều khác cả, anh Chính à! Đồ ăn thức uống, áo quần, phong tục tập quán cái gì cũng khác cả.

Trí vội vã:

- Hà Lam cứ gọi tôi là Trí đi, nghe! Đừng gọi anh Chính, anh Chính làm gì. Ở đây ai cũng gọi tôi là Trí, Trí thôi đó… trừ ba má tôi.

Giáo sư Bích Tâm cười mỉm đưa tia mắt thích thú ngó đưa con trai yêu mà không nói gì.

Hà Lam cũng cười thật tươi, phô hai hàm răng trắng bóng:

- Đồng ý! Đồng ý! Trí! Bây giờ Trí muốn hỏi gì thì hỏi đi! Tôi sẽ trả lời tất cả những gì mà tôi biết.

- Tôi muốn Hà Lam cho biết rõ về việc lễ đăng quang. Theo tôi biết thì đáng lẽ Hà Lam, tuần lễ sau vào ngày thứ Sáu, sẽ làm chủ lễ đăng quang, được nhận vương miện, bước lên ngai vàng kế vị tiên vương phải không? Cậu Hải Minh của Chiêm đã viết thơ về cho biết như vậy đó.

Hà Lam quay nhìn tôi:

- Chiêm! Cậu Hải Minh của Chiêm là một người rất tốt. Hồi ở Anh Quốc tôi đã có dịp được Hải Minh lái phi cơ đưa đi chơi. Cậu ấy còn cho tôi cầm lái nữa kia, khi phi cơ bay cao trên mây đó. Thế rồi khi Hải Minh về Ca-sa quốc lái phi cơ riêng cho vua cha thì tôi vẫn ở bên Anh, không được về lần nào vì bận học.

Trí nói tiếp, giọng vẫn điềm đạm, nhưng tôi biết rõ là anh không muốn câu chuyện lái về hướng… máy bay tàu bò:

- Có phải đúng thứ Sáu tuần sau là Ca-sa-bỉ-ba quốc sẽ làm lễ đăng quang cho vị vua mới không?

Hà Lam, nét mặt nghiêm trầm thoáng lộ vẻ đau buồn, trả lời:

- Đúng vậy đó, Trí! Tôi lo lắng ghê lắm! Nếu cuộc đại lễ này thành tựu thì dòng dõi nhà tôi sẽ mất ngôi báu và muôn dân Ca-sa quốc tế sẽ khổ sở lầm than. Tôi biết rằng các vị trung thần nghĩa sĩ Ca-sa-bỉ-ba đã làm đủ mọi cách để ngăn chặn, phá vỡ âm mưu của bè lũ Rả Bây bất nghĩa, nhưng họ đã bị thất bại… Nhưng – Hà Lam thở dài – nhưng biết đâu một ngày kia tôi lại chẳng có thể đòi lại được ngôi báu!

- Đại lễ đăng quang thì có những gì?

Đôi mắt Hà Lam bừng sáng một giây nhưng lại tức khắc rầu rĩ ủ ê, buồn rũ xuống:

- Trời! Tưng bừng rực rỡ vô cùng Trí, Chiêm à! Chính tôi, tôi cũng chưa được tham dự lần nào, chỉ được vua cha cho coi hình chụp để lại trong hoàng cung. Phụ vương lên ngôi báu trước khi tôi ra đời. Chỉ còn thiếu hai năm nữa là đủ hai chục năm, thời gian trị vì của cha tôi như vậy là lâu dài nhất so với các vị vua tài đức. Tiền của do các mỏ dầu hoả kỹ sư Phan khám phá được, vua cha đã dùng vào việc làm công ích cho toàn dân… Hà! Vào tay tên bạo ngược Rả Bây… thì đảo lộn hết.

Khi nói đến hai tiếng Rả-Bây, âm thanh Hà Lam lại đượm mùi cay đắng:

- Nhờ vua cha, nhờ kỹ sư Phan, tiểu quốc Ca-sa-bỉ-ba của giòng họ tôi vây giờ cường thịnh lắm, lễ đăng quang của tân vương ắt sẽ được tổ chức linh đình gấp bội so với hồi phụ vương tôi lên ngôi báu. Các vương quốc lân bang sẽ gửi sứ thần qua chúc thọ, có cả nhiều vị quốc vương Ấn Độ này, rồi lại cả phái đoàn Anh quốc nữa. Ca-sa-bì-ba chả là một tiểu quốc do nước Anh bảo hộ mà. Cuộc đại lễ sẽ kéo dài suốt một ngày. Những bộ lạc tại sa mạc cũng về dự. Họ ít khi về kinh thành. Nhưng trong dịp này họ sẽ về chúc thọ tân vương. Họ sẽ cưỡi ngựa xếp thành hàng, những đoàn ngựa cao lớn đẹp vô cùng, đi quanh thành phố cho toàn dân chiêm ngưỡng. Rồi lại có cả duyệt binh nữa. Vui lắm! Nhưng mục chính của buổi đại lễ vẫn là mục … cuối cùng. Tôn nghiêm và kính cẩn nhất. Đó là giờ phút thiêng liêng nhất! Vị tân vương sẽ uống chung ly nước “Đồng sinh” với một gã ăn mày!

Trí nhổm người lên:

- Ăn mày! Gã ăn mày! Sao lựa ai không lựa lại lựa một gã ăn mày?

Riêng tôi, tôi chỉ thấy nóng ruột muốn biết nước “đồng sinh” là thứ nước gì.

Hà Lam:

- Riêng về trường hợp Rả Bây thì tôi chắc chắn là ông ta sẽ chọn một người bên họ nhà vợ ông. Lý do: gã ăn mày, sau khi cùng vị tân vương uống nước phép, sẽ nhận được rất nhiều tặng vật, nhiều lắm, và hắn sẽ trở nên giàu sang phú quý suốt đời. Rồi lại được phong quan tước đại thần cao quý nhất trong triều. Hồi vua cha tôi đăng quang tức vị cũng đã có một vị đại thần trong trường hợp như thế.

Tôi đánh bạo hỏi thử một câu:

- Nước phép “Đồng sinh” là nước gì vậy? Và tại sao vị tân vương lại không uống một mình có được không?

- Đó là một hình thức tượng trưng. Nước được lấy về từ một giòng khe lạch rất trong ở tít mãi tận cùng thẳm núi cao. Vị tân vương uống nước đó chung cùng một cái ly quý với một tên ăn mày, nghĩa là người thần dân nghèo khổ nhất, để chứng tỏ tinh thần bình dân dễ dãi của mình và cũng để cho mọi người thấy rằng nhà vua sẽ tòng phục nguyện vọng của toàn dân, cũng như toàn dân phải tuân theo mệnh lệnh của đức Vua.

- Cái ly uống chung đó phải là đồ quốc bảo?

- Đúng! Đó là một chiếc ly đúc bằng bạch kim, một thứ vàng rất quý, hiếm, trắng sáng như bạc, lại có giát thêm châu báu. Rất xinh! Chỉ bằng chiếc bình nhỏ cắm hoa thôi!

Chợt nghe câu “bình nhỏ cắm hoa” từ miệng Thái Tử Hà Lam nói ra, Trí liếc nhanh mắt cho tôi. Tôi định lên tiếng hỏi, anh đã vội nháy mắt ra hiệu bảo tôi im lặng.

Hà Lam nói tiếp:

- Chiếc ly quý lưu truyền từ đời vua này tới đời vua sau và cứ mãi mãi như vậy, từ thế hệ này qua thế hệ khác. Báu vật được cất trong hoàng cung có thị vệ canh gác kỹ lắm. Chính tôi cũng chưa được thấy tận mắt lần nào. Hình chụp để trưng bày thì có. Trời! Nếu tôi có được cái ly báu đó, thì chắc chắn người bước lên ngai vàng sẽ là tôi chứ không phải tên bất nghĩa Rả Bây kia đâu.

Trí hỏi kỹ:

- Hà Lam nói thế có nghĩa là nếu không có chiếc ly quý đó trong tay thì không thể lên được ngôi báu?

- Đúng như vậy! – Và nét mặt vị hoàng tử lưu vong lại đượm nét ủ ê.

- Lễ đăng quang của phụ vương Hà Lam được tổ chức vào năm nào?

- Ngày 12-8 năm 1950.

Trí gật gật đầu, đắm chìm suy nghĩ. Hà Lam cũng mơ màng tưởng nhớ cái gì đâu đâu. Tôi chỉ im lặng đưa mắt ngó hai người, không dám làm kinh động. Nhưng giáo sư Bích Tâm, ba Trí, thì lại cứ tự nhiên như không. Ông đứng lên nhắc anh là đã tới giờ về:

- Thôi trễ rồi đây! Hai anh em liệu có về thì về đi. Ba và Hà Lam còn ở lại làm nốt một vài việc đã!

Khi hai anh em bước ra ngoài đường phố, Trí bỗng tỏ ra xao động và vội vã cô cùng:

- Cứ cách một giờ lại có xe đi Biên Hoà đấy nhỉ?

Tôi ngó đồng hồ tay:

- Ừ! 30 phút nữa là có chuyến! Sao? Tụi mình đi Biên Hoà hả?

- Không! Chiêm ở nhà! Mình cần lên đó làm cái này gấp lắm. Mình tôi đi đủ rồi. Chiêm còn việc quan trọng phải làm mà. – Tôi biết là anh lại nhắc tôi cái món nợ “lọn tóc của tên Kha Bỉ”, liền nhăn mặt:

- Trời đất! Tôi đâu phải thợ cạo! Làm sao mà cắt được tóc trên đầu hắn chứ?

Khi về đến nơi, Trí không nói không rằng quay ngoắt vào trong nhà dắt xe ra, nhẩy lên, nhắm hướng bến xe Biên Hoà, chân đạp băng băng.
_______________________________________________________________________________ 
Xem tiếp CHƯƠNG XI, XII

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét